Halab
Cái hang không hề sập, và người thợ lặn chết ở 13 mét
Sinh tồn

Cái hang không hề sập, và người thợ lặn chết ở 13 mét

Đội trục vớt xuống nước để tìm một đống đá. Họ biết trước phải tìm gì: cả bang đã đọc tin từ hôm trước rằng vách hang sập, đá lớn đè lên một thợ lặn.

· 15 phút đọc · Halab

Đội trục vớt xuống nước để tìm một đống đá.

Họ biết trước phải tìm gì: cả bang đã đọc tin từ hôm trước rằng vách hang sập, đá lớn đè lên một thợ lặn.

Việc của họ là dọn đá và đưa người lên.

Họ xuống tới đáy, và ở đó không có đống đá nào.

Nhưng để hiểu tại sao họ lại xuống đó với cái đầu đã tin sẵn vào một đống đá, phải quay ngược lại từ đầu.

Paradise Springs nằm ở hạt Marion, bang Florida, cách thành phố Ocala một quãng ngắn về phía nam, ngay cạnh quốc lộ 441.

Nhìn từ trên xuống, nó không giống một cái hang.

Nó là một hố nước nhỏ giữa cây cối, kiểu địa hình mà dân địa chất gọi là cửa sổ karst, tức là chỗ trần đá vôi sụt xuống làm lộ ra dòng nước ngầm chảy bên dưới.

Người ta làm bậc thang gỗ dẫn xuống mép nước.

Dưới mặt nước chừng 4,5 mét có một sàn chờ, chỗ thợ lặn đứng chỉnh trang bị trước khi đi tiếp.

Trên vách đá quanh đó còn nguyên hoá thạch của sinh vật biển cổ, loại bánh biển và tiền biển, dấu tích của thời cả vùng này còn nằm dưới đáy đại dương.

Từ sàn chờ, một khe dốc mở xuống một khoang hang lớn.

Càng xuống thì lòng hang càng rộng ra, và càng tối.

Ở khoảng 30 mét sâu có một tấm biển gắn dưới nước.

Trên biển vẽ hình Thần Chết.

Đó là mốc ranh giới do chính giới lặn hang đặt ra: từ chỗ này trở xuống không còn là vùng vẫn nhìn thấy ánh sáng cửa hang, mà là hang thật, và chỉ người có chứng chỉ lặn hang đầy đủ mới được phép qua.

Điểm sâu nhất của hệ hang này khoảng 43 mét.

Có một đặc điểm của Paradise Springs mà mô tả điểm lặn nào cũng nhấn mạnh, và nó là mấu chốt của mọi chuyện xảy ra sau đây.

Nơi này gần như không có dòng chảy.

Ở một con suối có dòng, bùn khuấy lên sẽ bị nước cuốn đi và tầm nhìn hồi lại sau vài phút.

Ở Paradise Springs thì không.

Bùn bốc lên là treo lơ lửng ở đó, và ở lại.

Vì thế mọi tài liệu hướng dẫn về điểm lặn này đều xếp kỹ năng kiểm soát bùn vào diện sống còn, không phải diện nên có.

Chiều thứ Bảy ngày 22 tháng 9 năm 1996, hai người xuống nước ở đây.

Một người đàn ông 26 tuổi, cư dân Ocala.

Một người phụ nữ 25 tuổi.

Về quan hệ giữa hai người, các nguồn không thống nhất, và điều đó cần nói ngay để khỏi bị hiểu sai về sau.

Bản tin đầu tiên ra ngay trong ngày gọi cô là bạn gái của anh.

Bản tin hôm sau của chính tờ báo đó, khi đã có tên tuổi và đã hỏi được cảnh sát, chỉ gọi cô là một người bạn.

Hồ sơ điều tra của Hội Hang động Quốc gia Mỹ dùng từ trung tính nhất: bạn lặn.

Bài này theo cách gọi sau cùng, vì đó là cách duy nhất không phải đoán.

Còn về trình độ thì các nguồn thống nhất tuyệt đối.

Cả hai đều chỉ có chứng chỉ lặn biển hở.

Không ai trong hai người được đào tạo lặn hang.

Họ không mang dây dẫn đường.

Và họ đi qua tấm biển có hình Thần Chết.

Theo báo chí địa phương dẫn lời cảnh sát trưởng hạt Marion, sự việc xảy ra vào khoảng 13 giờ.

Đó là lần lặn thứ hai của họ trong ngày.

Chi tiết này chỉ có ở bản tin ra ngày 22 tháng 9, nên cần ghi rõ là theo một nguồn.

Nhưng nếu đúng thì nó có ý nghĩa, vì nó nói rằng lúc tai nạn xảy ra, hai người không đang trên đường vào.

Họ đang trên đường quay ra.

Độ sâu tối đa mà họ đạt tới là 148 feet, tức khoảng 45 mét.

Con số đó lấy từ hồ sơ điều tra.

Báo chí cùng thời ghi 140 feet, nhưng đó cũng đúng bằng con số độ sâu tối đa của điểm lặn in trong các bản mô tả thương mại, nên nhiều khả năng nhà báo lấy từ đó.

Bài này dùng số của hồ sơ điều tra.

Ở độ sâu ấy, bùn dưới đáy bị khuấy lên.

Hồ sơ không ghi cụ thể do đâu, và có ít nhất 2 cơ chế cùng lúc có thể gây ra chuyện đó, cả hai đều đặc trưng cho người chưa được đào tạo lặn hang.

Cơ chế thứ nhất là kiểu đạp chân.

Thợ lặn biển hở quen đạp chân vịt hướng xuống dưới, vì dưới họ thường là nước trống.

Trong hang, cú đạp đó thổi thẳng một dòng nước vào lớp bùn đáy.

Thợ lặn hang được dạy đạp kiểu ếch hoặc kiểu vẫy cải biên, đẩy nước ra phía sau chứ không xuống dưới, và đó là một trong những kỹ thuật đầu tiên khoá học dạy.

Cơ chế thứ hai là bùn rơi từ trần.

Bọt khí thở ra không tan đi mà bám lên trần hang, làm lớp đất bám trần long ra và rơi xuống như tuyết.

Ở đoạn sâu của Paradise Springs, đáy và vách là đất bùn chứ không phải đá sạch.

Dù bằng cơ chế nào, kết quả thì giống nhau.

Tầm nhìn dưới hang không giảm dần.

Nó tắt như tắt đèn.

Và vì không có dòng chảy, nó không hồi lại.

Đây là chỗ cần dừng lại, vì người chưa lặn hang thường hình dung sai mức độ.

Trong bùn đục, đèn không cứu được ai.

Chiếu đèn vào đám bùn treo chỉ tạo ra một bức tường trắng loá hắt ngược vào mắt, và người ta nhìn thấy ít hơn cả khi tắt đèn.

Dưới hang không có ánh sáng tự nhiên để định hướng.

Không có mặt thoáng phía trên đầu để cứ thế bơi lên, vì phía trên đầu là đá.

Cơ thể người trong nước ở trạng thái nổi trung tính thì ngay cả cảm giác trên dưới cũng mờ đi.

Khi tầm nhìn về 0, người thợ lặn mất sạch mọi tham chiếu cùng một lúc.

Đó chính xác là lý do sợi dây dẫn đường tồn tại.

Sợi dây không phải để bám vào mà leo.

Nó là tham chiếu vật lý duy nhất còn hoạt động khi mắt đã vô dụng: sờ thấy dây, xác định chiều, lần theo dây, ra.

Hai người này không có dây.

Trong đám bùn, họ lạc nhau.

Người đàn ông tìm đường ra bằng cách dò tay dọc theo vách.

Anh sờ trúng một khe nứt.

Anh chui vào.

Và anh kẹt lại trong đó.

Người bạn lặn nhìn thấy anh biến mất trong đám bùn.

Hồ sơ điều tra ghi nguyên văn rằng cô tưởng hang đã sập đè lên anh.

Đó là chi tiết tâm lý duy nhất về hai người mà có nguồn ghi lại, và nó đủ để giải thích mọi chuyện xảy ra sau đó trên mặt đất.

Cô ngoi lên mặt nước gọi cứu hộ.

Theo bản tin ngày 22 tháng 9, cô quay xuống một lần nữa cùng một thợ lặn khác, nhưng họ không tiếp cận được anh.

Thợ lặn cứu hộ tới hiện trường sau đó khoảng 1 tiếng.

Họ tìm được người, nhưng không đưa lên được.

Việc trục vớt phải hoãn lại.

Theo báo, lý do hoãn là vì sợ hang sập tiếp.

Ngay trong ngày 22 tháng 9 năm 1996, hai tờ báo lớn của Florida cùng đăng rằng vách hang Paradise Springs đã sập và đè chết một thợ lặn ở độ sâu chừng 42 mét.

Một tờ chạy tít thẳng là vách hang sập giết chết thợ lặn.

Bản tin hôm sau vẫn giữ nguyên cái khung đó, và mô tả việc trục vớt là dọn đá.

Đó là thứ mà cả bang Florida biết khi đội trục vớt được gọi tới.

Đội trục vớt thuộc Hội Hang động Quốc gia Mỹ là lực lượng chuyên trách, những người quen với việc phải xuống các hệ hang ngập nước sau khi mọi khả năng cứu sống đã hết.

Họ xuống vào ngày Chủ nhật 23 tháng 9.

Theo báo địa phương, công việc mất khoảng 3 tiếng.

Bản tin gọi 3 tiếng đó là thời gian dọn đá.

Nhưng thứ đội trục vớt ghi lại trong hồ sơ thì khác hẳn.

Hồ sơ ghi rằng đội trục vớt phát hiện hang đã không hề sập.

Không có vách nứt.

Không có tảng lở.

Không có dấu hiệu nào cho thấy có thứ gì trong lòng hang từng dịch chuyển.

Hang nguyên vẹn.

Cái mà cả bang tin suốt hai ngày, và cái mà người bạn lặn sống sót đã tin từ khoảnh khắc cô ngoi lên mặt nước gọi cứu hộ, chưa từng xảy ra.

Cái mà họ tìm thấy là một khe nứt trong đá, và dấu vết cho biết người thợ lặn đã tự chui vào đó.

Từ hiện trường, đội dựng lại được diễn biến phần cuối, và đây là phần khiến vụ này khác mọi vụ kẹt hang khác.

Người thợ lặn không chết trong khe.

Anh đã thoát ra được.

Hồ sơ ghi rằng anh cởi bộ đai trang bị trên người, lùi ngược ra khỏi khe nứt, rồi bắt đầu bơi lên.

Anh bơi lên trong bóng tối hoàn toàn, không mang đèn.

Và anh nín thở trên đường lên.

Xác anh được tìm thấy ở khoảng mực 44 feet, tức chừng 13 mét.

Đó là con số đáng nhìn kỹ nhất trong cả hồ sơ.

Từ chỗ kẹt ở 45 mét lên tới nơi tìm thấy anh là hơn 30 mét theo chiều đứng.

Anh đã đi hết quãng đó.

Anh chết ở đoạn cuối, ở cái mực mà một thợ lặn biển bình thường coi là vùng nông.

Hồ sơ điều tra được lập trên cơ sở báo cáo hiện trường do một người của hội lập ngày 23 tháng 9 năm 1996, tức ngay hôm trục vớt.

Trong phần đó có một câu ngắn về báo chí: báo chí đã đăng nguyên nhân tai nạn là sập hang, và một báo cáo về sau đã sửa lại sai sót đó.

Hai câu, không bình luận thêm.

Nhưng nó ghi lại một chuyện đáng kể: trong hai ngày, thứ mà công chúng Florida biết về cái chết này hoàn toàn không phải thứ đã xảy ra.

Cần nói cho công bằng rằng đây không phải lỗi bịa đặt của nhà báo.

Người duy nhất chứng kiến là bạn lặn của anh, và cô tin là hang sập.

Cô tin thế vì cô thấy anh biến mất trong một đám bùn dày, và trong đám bùn ấy, cách duy nhất để giải thích việc một người biến mất là có thứ gì đó đã đổ xuống.

Cô báo với cứu hộ điều cô tin.

Cứu hộ báo với cảnh sát.

Cảnh sát nói với nhà báo.

Và hai tờ báo lớn nhất bang Florida cùng chạy tin đó trong một ngày.

Chuỗi ấy không có ai nói dối ở khâu nào.

Nó chỉ cho thấy một điều: khi người chứng kiến duy nhất cũng bị mù, thì toàn bộ phần còn lại của thế giới nhìn qua cái mù đó.

Ngày nay, nếu tra vụ này bằng các bản tin lưu trữ, thứ đọc được vẫn là phiên bản chưa sửa.

Khi đã biết hang không sập, câu hỏi trung tâm của vụ này không còn là vì sao anh bị kẹt.

Kẹt trong hang khi không có dây dẫn đường và không được đào tạo là chuyện đã được ghi lại hàng trăm lần trong hồ sơ tai nạn lặn hang.

Câu hỏi là câu khó hơn.

Vì sao một người vừa làm được cái việc khó nhất lại chết ở cái việc dễ nhất.

Hãy nhìn lại thứ anh đã làm dưới đó.

Anh bị kẹt trong một khe nứt, ở độ sâu 45 mét, trong nước đục hoàn toàn.

Ở độ sâu ấy, áp suất tuyệt đối khoảng 5,5 atmosphere, nghĩa là mỗi hơi thở anh rút ra khỏi bình một lượng khí gấp 5,5 lần so với thở trên mặt đất.

Một bình khí đủ dùng 1 tiếng ở mặt nước, xuống tới đó chỉ còn khoảng 10 phút.

Người hoảng loạn thở gấp thì con số ấy còn ngắn nữa.

Và bộ trang bị sau lưng là phần rộng nhất của cơ thể người thợ lặn: bình khí, van, đai.

Khi một người chui vào khe hẹp bằng lực chân, chính bộ đồ ấy chèn lại lúc anh ta cố lùi ra.

Càng giãy càng chặt, và mỗi cú giãy lại tung thêm bùn.

Trong tình huống đó, phản xạ của gần như mọi người là vùng vẫy cho tới khi hết khí.

Anh không làm thế.

Anh cởi bộ đai ra.

Đó là một quyết định đòi hỏi bình tĩnh ở mức hiếm, vì cởi đai nghĩa là tự tay bỏ nguồn khí duy nhất của mình lại phía sau, trong bóng tối, ở 45 mét nước.

Rồi anh lùi ra được.

Rồi anh bơi lên hơn 30 mét trong bóng tối không đèn, không bình, chỉ bằng một hơi.

Không có phần nào trong chuỗi đó là hành động của người mất kiểm soát.

Và anh vẫn chết, vì cái hơi ấy là hơi anh hít vào ở dưới sâu.

Đây là chỗ mà trực giác của người thường sai gần như hoàn toàn.

Nghe nín thở bơi lên, đa số nghĩ đó là cách tiết kiệm, thậm chí là cách an toàn.

Thợ lặn tự do vẫn nín thở suốt buổi lặn và không sao cả.

Nhưng hai tình huống ấy ngược nhau về vật lý.

Người lặn tự do hít đầy phổi ở trên mặt nước, tức là ở áp suất 1 atmosphere.

Khối khí đó bị nén nhỏ lại khi họ xuống sâu, rồi giãn trở về đúng thể tích ban đầu khi họ lên.

Phổi không bao giờ bị bơm quá cỡ vốn có của nó.

Người thợ lặn bình khí thì ngược lại hoàn toàn.

Hơi cuối cùng anh hít là khí lấy từ bình ở độ sâu 45 mét, tức là khí đã bị nén sẵn ở khoảng 5,5 atmosphere.

Định luật Boyle nói rằng ở nhiệt độ không đổi, thể tích một khối khí tỉ lệ nghịch với áp suất tác dụng lên nó.

Khi anh bơi lên, áp suất bên ngoài giảm dần, và khối khí trong lồng ngực anh nở ra theo, tới gần 5,5 lần thể tích ban đầu nếu lên tới mặt nước.

Nếu đường thở mở, phần khí thừa tự thoát ra qua miệng và không có gì xảy ra.

Đó là lý do quy tắc số một của lặn bình khí, quy tắc được dạy trong buổi học đầu tiên của mọi khoá cơ bản, là không bao giờ nín thở.

Nếu đường thở đóng, phần khí thừa không có lối ra.

Nó ép vào mô phổi cho tới khi mô rách.

Y văn gọi đó là chấn thương áp lực phổi, và tài liệu chuyên môn ghi rõ rằng nguyên nhân phổ biến nhất của nó chính là nín thở khi bơi lên, thường xảy ra với người hết khí ở độ sâu rồi hoảng mà quên thở ra.

Từ chỗ rách, khí lọt thẳng vào mạch máu phổi và theo dòng máu đi lên, gây thuyên tắc khí động mạch: bọt khí chẹn mạch ở não hoặc tim, và người ta mất ý thức trong vòng vài phút.

Đây là chỗ rất hay bị kể nhầm thành bệnh giảm áp, mà hai thứ đó khác hẳn nhau.

Bệnh giảm áp là chuyện nitơ hoà tan trong mô thoát ra thành bọt khi giảm áp chậm, theo định luật Henry, thường sau một chuyến lặn dài.

Còn nín thở khi bơi lên gây chấn thương áp lực phổi do khí trong lồng ngực nở ra, theo định luật Boyle, và xảy ra tức thì.

Hai bệnh, hai định luật, hai cách phòng tránh khác nhau.

Mức chênh áp cần thiết để gây ra chuyện này nhỏ hơn nhiều so với người ta tưởng.

Y văn ghi nhận các ca xảy ra chỉ với chừng 1,2 mét nước.

Anh có 45 mét.

Cần nói rõ một điều để không vượt quá hồ sơ: không có nguồn nào công bố nguyên nhân tử vong y khoa của người thợ lặn này.

Hồ sơ điều tra ghi diễn biến chứ không ghi kết luận pháp y, không nhắc tới khám nghiệm tử thi.

Bài này không nói anh chết vì gì.

Bài này chỉ nói điều mà mọi tài liệu lặn đều nói: nín thở bơi lên từ độ sâu là điều bị cấm tuyệt đối trong lặn bình khí, và cơ chế đằng sau lệnh cấm đó là định luật Boyle.

Hồ sơ xếp vụ này vào loại đã có tên sẵn trong sách vở: nước đục, không dây dẫn đường.

Phần nhận xét của hồ sơ viết rằng dùng dây dẫn đường để giữ phương hướng trong điều kiện tầm nhìn bằng 0 chỉ là một trong những kỹ thuật chuyên biệt của lặn hang.

Chỉ là một trong số đó.

Không phải một kỹ thuật cao siêu, không phải thứ dành cho người giỏi, chỉ là một món trong danh mục cơ bản mà khoá học nào cũng dạy ngay từ đầu.

Về tên hai người thì bài này không nêu, và đó là quyết định có lý do.

Tên của họ chỉ xuất hiện trong một bản tin duy nhất, không có nguồn thứ hai để đối chiếu chính tả hay thứ tự tên họ.

Hồ sơ điều tra của hội, tức nguồn cấp một của vụ này, cố ý không nêu tên nạn nhân.

Khi chỉ có một nguồn cho một cái tên, cách xử lý đúng là gọi theo vai trò.

Còn 45 mét ở đây là độ sâu thẳng đứng, không phải quãng đường xuyên hang.

Đây là hai con số hay bị nhập làm một khi kể lại các vụ tai nạn lặn hang, và nhập vào là biến một tai nạn thành một kỷ lục.

Ở Paradise Springs vẫn có tấm biển hình Thần Chết gắn dưới nước ở mực 30 mét, và người ta vẫn xuống lặn ở đó cho tới hôm nay.

Thợ lặn ghé qua kể lại rằng ngay quá tấm biển ấy có một mốc tưởng niệm, khắc một ngày sinh và một ngày mất.

Không ai chép lại được cái tên trên đó.

Nhưng con số đáng nhớ nhất trong hồ sơ vẫn là 13 mét.

Đó là chỗ người ta tìm thấy anh, sau khi anh đã làm đúng gần như tất cả những việc mà một người trong hoàn cảnh đó có thể làm sai.

13 mét là độ sâu của một buổi lặn tập.

Nó cũng vừa đủ để định luật Boyle làm xong việc của nó.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp