Halab
Tấm bản đồ vẽ hồi cái hang còn khô
Sinh tồn

Tấm bản đồ vẽ hồi cái hang còn khô

Hai người mê lặn chui vào một hang ngầm để đuổi bắt một con cá trê khổng lồ. Bơi được một lúc, họ thấy khí đã vơi nên quyết định quay ra theo đường cũ.

· 12 phút đọc · Halab

Hai người mê lặn chui vào một hang ngầm để đuổi bắt một con cá trê khổng lồ.

Bơi được một lúc, họ thấy khí đã vơi nên quyết định quay ra theo đường cũ.

Nhưng tầm nhìn dưới nước quá thấp, họ lạc đường và bơi về hai hướng khác nhau.

Một người may mắn ra được tới cửa hang trước khi bình cạn.

Người còn lại bơi vào sâu hơn, và không ai biết anh ta còn sống hay đã chết.

Ngay sau đó một cuộc tìm kiếm quy mô lớn được mở ra.

Nhưng tại hiện trường xảy ra một cảnh khó xử: có hơn 100 người tham gia cứu hộ, mà không một ai trong số đó có chứng chỉ lặn hang.

Rồi tổng chỉ huy hiện trường kết luận người mất tích đã chết, và chuyển toàn bộ chiến dịch từ cứu người sang vớt xác.

Nơi xảy ra chuyện là chỗ giáp ranh ba bang Tennessee, Alabama và Georgia của nước Mỹ, nơi có một con đập tên là đập Nickajack.

Đập nằm trên sông Tennessee, là một trong 9 nhà máy phát điện do Cơ quan Thung lũng Tennessee sở hữu và vận hành.

Cơ quan này thường được gọi tắt là TVA.

Con đập tạo ra trong vùng một cái hồ rộng 4.200 hecta, gọi là hồ Nickajack.

Bờ nam hồ giấu một cái hang, tên là hang Nickajack.

Có một đường mòn dẫn bộ tới gần cửa hang.

Còn Nickajack vốn là tên một ngôi làng ở thượng nguồn con đập, giờ đã nằm dưới đáy nước.

Trước khi con đập được xây, hang Nickajack còn là một cái hang khô.

Trong thời Nội chiến Mỹ, đây là một mỏ diêm tiêu quan trọng.

Về sau nó lại được khai thác thành điểm du lịch.

TVA từng cho đo đạc cái hang này một lần rất chi tiết, ghi lại chiều dài và chiều cao của từng đoạn đường hang.

Đó chính là tấm bản đồ sẽ quay lại trong câu chuyện này.

Sau khi con đập hoàn thành, nơi đây biến thành một hang ngập nước.

Chỉ còn đại sảnh ngay cửa hang là nhô lên trên mặt nước, phần này được gọi là hang ngoài.

Cửa hang rộng 43 mét, cao 6 mét.

Khu hang ngoài có mực nước sâu khoảng 9 mét.

Tổng chiều dài của hang thì hơn 1 kilomet.

Giờ đại sảnh của hang ngoài trở thành nơi cư trú của loài dơi xám, một loài nằm trong danh mục nguy cấp.

Để bảo vệ chúng, và cũng để tránh việc có người lặn vào bên trong, phía quản lý đã lắp hai lớp rào chắn ở cửa hang.

Nhưng vẫn rất nhiều người lén chui vào.

Chẳng hạn ba người trong câu chuyện này.

Hơn 23 giờ đêm ngày 15 tháng 8 năm 1992, David Gant cùng hai người bạn là Scott Clark và Alex Myers lén tới khu vực cửa hang.

Sở dĩ họ đi đêm cũng là để tránh mặt nhân viên quản lý.

Cả ba đều là thợ lặn dày dạn kinh nghiệm.

Nhưng kinh nghiệm lặn của họ đều đến từ vùng nước hở, không ai có chứng nhận về lặn hang.

Dù vậy cả ba đã từng lặn vào cái hang này 3 lần.

Lần gần nhất là ngay hôm trước, và trong hang họ phát hiện một con cá trê khổng lồ nặng chừng 100 cân.

David còn phóng lao trúng nó, nhưng con cá cuối cùng chạy thoát vào sâu trong hang.

Cần nói ngay rằng chuyện cá trê trăm cân dưới hang Nickajack là lời đồn lưu truyền trong vùng, chưa có con nào được bắt lên và cân.

Dù sao thì ba người cũng chuẩn bị quay lại một chuyến nữa để bắt bằng được con cá.

Trèo qua hàng rào xong, Alex ở lại khu hang ngoài.

David và Scott xuống nước đi tìm con cá.

Nước ở khu hang ngoài khá đục, tầm nhìn chỉ chừng 60 centimet.

Nhưng vì đường hang chính bên trong không sâu, thậm chí còn khá rộng rãi, nên chỉ cần không rẽ vào các nhánh hang phụ thì theo lẽ thường cũng không vấn đề gì.

Hai người tìm trong nước gần 1 tiếng đồng hồ mà con cá trê vẫn không xuất hiện.

Vì lượng khí còn lại đã không nhiều, thêm nữa tầm nhìn dưới nước càng lúc càng tệ đi do chính chuyển động bơi của họ khuấy lên, hai người quyết định bỏ cuộc và quay ra theo đường cũ.

Sau đó họ bơi về phía mà họ tưởng là lối ra.

Nhưng thực tế là họ bơi ngược.

Sở dĩ bơi ngược, chủ yếu là vì lúc vào họ không mang theo dây dẫn đường, cộng thêm tầm nhìn kém nên mất phương hướng.

Bơi được chừng 10 phút, hai người thấy lẽ ra đã phải tới cửa hang rồi.

Kết quả là trên đầu vẫn là đá.

Cả hai lập tức hoảng loạn.

Họ bơi điên cuồng để tìm lối ra.

Nhưng chính những động tác đó lại khuấy thêm bùn đất, khiến tầm nhìn dưới nước gần như rơi xuống bằng 0.

Rồi hai người lạc mất nhau.

Họ bơi về hai hướng khác nhau.

Bạn của David đoán đúng hướng.

Ngay trước lúc bình khí sắp cạn, anh ta ngoi lên được mặt nước ở khu hang ngoài.

Anh ta cùng người còn lại đợi một lúc, thấy David mãi không ra, nên gọi cảnh sát.

Lúc đó là 2 giờ sáng ngày 16 tháng 8.

Còn David, sau khi lạc nhau thì cứ bơi mãi vào sâu trong hang.

Lối ra thì chắc chắn không tìm nổi nữa.

Nhưng anh cũng khá may mắn.

Đúng lúc khí sắp cạn, anh phát hiện ra một túi khí.

Chỉ có điều cái túi khí này rất nhỏ, chiều cao chỉ chừng 20 centimet.

Anh chỉ có thể gắng gượng nhô đầu lên để thở.

Chỗ đó lại không có điểm tựa nào.

David buộc phải dựa vào áo phao và liên tục đập tay đập chân để giữ mình nổi lơ lửng.

Trong lòng anh tuyệt vọng vô cùng.

Vì anh không biết Scott còn sống hay không.

Anh nghĩ lát nữa Alex ở bên ngoài chắc sẽ báo cảnh sát.

Nhưng lượng không khí trong cái túi khí này có lẽ không đủ để anh cầm cự tới lúc cứu hộ vào tới nơi.

Mà cho dù cầm cự được, anh cũng có thể chết trước vì kiệt sức, hoặc vì hạ thân nhiệt.

Bên ngoài, đội cứu hộ do TVA lập ra đã có mặt tại hiện trường.

Nhưng tổng chỉ huy phát hiện ra một tình huống khó xử.

Tuy nhân sự cứu hộ tại hiện trường lên tới hàng trăm người, không ai trong số họ có chứng chỉ lặn hang.

Còn những người có năng lực tìm kiếm cứu nạn trong hang, gần nhất cũng đang ở Atlanta và Huntsville.

Đợi họ tới nơi thì ít nhất cũng mất 4 tiếng nữa.

Thế nên đội cứu hộ chỉ lùng sục một vòng ở khu hang ngoài rồi bỏ cuộc.

Lúc đó là 4 giờ sáng.

Tổng chỉ huy cho rằng đến giờ này David chắc chắn đã cạn khí và chết đuối rồi.

Vậy nên ông chuyển chiến dịch từ chủ động cứu người sang vớt xác.

Trên bờ người ta vừa tuyên bố đây là một cuộc vớt xác, còn dưới mấy chục mét đá, người được tuyên bố là đã chết vẫn đang đạp nước trong bóng tối.

Khoảng 6 giờ sáng ngày 16 tháng 8, có hai người tới hiện trường và nêu ra một ý kiến khác.

Họ là Buddy Lane, đội trưởng đội cứu hộ hang động và vách đá hạt Hamilton, cùng người bạn thân Dennis Curry.

Hai người cho rằng trong hang Nickajack hẳn phải có không ít túi khí.

Căn cứ là tấm bản đồ hang từng được vẽ trước đây.

Tấm bản đồ đó ghi chú chiều dài và chiều cao của từng đoạn hang.

Có mấy chỗ chiều cao còn lớn hơn cả cửa hang.

Vậy thì đã đến cửa hang còn chưa ngập hết, những chỗ đó chắc chắn cũng chưa ngập.

Nghĩa là bên trong phải có mấy chỗ đọng túi khí.

Mà David theo bản năng thì chắc chắn sẽ nổi lên, tức là bám sát trần hang mà đi.

Vậy thì khả năng rất cao là anh đã tìm được một trong số những túi khí ấy.

Nhìn lại từ góc của người đã biết hết mọi chuyện, suy đoán của hai người là hoàn toàn chính xác.

Nhưng đáng tiếc là tổng chỉ huy bác bỏ đề nghị tìm kiếm của họ.

Vì ông cho rằng chỉ dựa vào một suy đoán mà để thợ lặn xuống mạo hiểm thì không đáng.

Buddy và Dennis lại xin cho họ tự xuống khu hang ngoài đánh giá tình hình một chút.

Vẫn bị từ chối.

Tổng chỉ huy thậm chí còn nói rằng đây là cứu hộ dưới nước chứ không phải cứu hộ hang động.

Ý tứ là mấy người làm cứu hộ hang thì đừng chen vào chỗ này.

Sau đó các thợ lặn hang chuyên nghiệp cũng tới nơi.

Buddy và Dennis lại một lần nữa xin được xuống tìm.

Và lại một lần nữa bị tổng chỉ huy từ chối.

Lúc này tình trạng của David đang xấu đi từng lúc.

Để giữ được tư thế nổi, tay chân anh phải liên tục đập nước.

Nhưng càng lâu thì động tác đó càng đuối.

Vì ngoài chuyện đói, lượng oxy trong túi khí đang giảm dần, còn nồng độ khí cacbonic thì ngày một cao lên.

Anh bắt đầu đau đầu dữ dội và buồn nôn.

Thân nhiệt cũng đang tụt xuống.

David đã ở ngay sát cái ngưỡng buông xuôi.

Bên ngoài, Buddy và Dennis vẫn chưa bỏ cuộc.

Họ đã thuyết phục mấy lượt mà không lay chuyển nổi tổng chỉ huy.

Thế nên họ quyết định dùng tới quan hệ của chính mình.

Họ liên lạc với người bạn tên Mark Caldwell.

Mark là giám đốc phụ trách mảng phòng vệ của Cơ quan Quản lý Tình trạng Khẩn cấp Liên bang Mỹ, đồng thời là điều phối viên dịch vụ khẩn cấp cấp bang phụ trách lực lượng tình nguyện trong khu vực.

Ông hiểu rõ trình độ của Buddy và Dennis, và tin vào phán đoán của hai người.

Nghe hai người trình bày xong, Mark lập tức lái xe tới hiện trường.

Tổng chỉ huy đón tiếp Mark rất nhiệt tình, đồng thời còn giải thích cho ông lý do vì sao mình chuyển cứu hộ thành vớt xác.

Nhưng Mark nói với ông ta rằng trách nhiệm của chúng ta là hỗ trợ các chuyên gia, chứ không phải chỉ trỏ bảo họ phải làm gì.

Sau đó Mark tiếp quản quyền chỉ huy hiện trường, và định lại tính chất của chiến dịch là chủ động cứu người.

Mark cùng các đội viên của Buddy nghiên cứu rồi nhận định rằng, trước khi tìm được David, rất có khả năng David sẽ hôn mê vì thiếu oxy trước đó.

Vì tính toán của họ cho thấy các túi khí trong hang đều có không gian khá nhỏ.

Cho nên phải đưa thêm không khí vào cho anh trước đã.

Tiếp đó Mark ra một mệnh lệnh.

Ông cho đập Nickajack lập tức khởi động máy phát điện để xả nước.

Đồng thời cho con đập ở thượng nguồn và các hồ dọc tuyến bắt đầu tích nước.

Làm vậy thì sẽ hạ được mực nước của cái hồ Nickajack rộng 4.200 hecta.

Việc này cũng khiến Cơ quan Thung lũng Tennessee thiệt hại vài trăm nghìn đôla.

Nhưng Mark vẫn quyết định làm.

Khoảng 1 tiếng sau, mực nước hồ hạ xuống 35 centimet.

Đó là mức hạ tối đa được phép mà vẫn giữ được điều kiện thông thuyền của con đập.

Sở dĩ phải hạ nhiều đến thế cũng là đã qua tính toán.

Vì căn cứ vào chiều cao ghi trên tấm bản đồ hang, khi nước hồ hạ 35 centimet thì đường hang chính sẽ hở ra một khe trống cao ít nhất 5 centimet.

Chừng đó đủ để không khí bên ngoài lọt được vào bên trong hang.

Nếu túi khí chỗ David đang ở đúng vào đoạn ấy, thì chuyện thở của anh tạm thời không còn là vấn đề nữa.

Cách làm này cũng rất chính xác.

Vì lúc đó David đang ở ngay bên bờ vực hôn mê.

Anh bỗng cảm thấy có một luồng không khí thổi vào.

Mực nước cũng hạ xuống một chút.

Nhưng anh cho rằng đó là ảo giác trước lúc chết.

Sau khi mực nước ổn định, Buddy và Dennis mặc đồ lặn, bắt đầu tiến vào hang tìm David.

Để tiết kiệm khí trong bình, suốt dọc đường hai người đều ngửa mặt lên, men theo lớp không khí sát trần hang mà đi.

Nhưng làm vậy cũng khiến hai người không nhìn thấy tình hình dưới nước.

Vừa vào chưa được bao xa, họ bị một sinh vật khổng lồ dài chừng 2 mét đâm phải.

Hai người sợ tới mức đứng im không dám nhúc nhích.

Đó hẳn là một con cá trê khổng lồ, mà không chừng đúng là con mà David và Scott đang đuổi.

Trong hang mà bị nó tấn công thì hậu quả khó lường.

May là một lát sau, cái sinh vật khổng lồ ấy lại bỏ đi.

Hai người vừa bơi vừa gọi tên David.

Không biết đã qua bao lâu, họ bỗng nghe có tiếng đáp lại.

Thế là hai người vội bơi về phía có tiếng.

Cuối cùng họ phát hiện ra một người trong một hốc khí chật hẹp.

Đó đúng là David.

Lúc này đã tròn 17 tiếng kể từ khi anh bị kẹt lại.

Buddy và Dennis mừng khôn xiết.

Dù sao thì hai người, kể cả Mark, cũng đã chịu áp lực rất lớn.

Nhưng David lúc ấy lại có gì đó là lạ.

Anh nhìn hai người rồi nghiêm túc hỏi, các anh là thiên thần đúng không.

Hoá ra ảo giác của David vẫn chưa tan.

Khi ánh đèn của hai người xuất hiện, anh tưởng rằng mình đã chết và đang nhìn thấy thiên thần.

Sau đó David được hai vị thiên thần ấy dìu, bắt đầu bơi ra phía hang ngoài.

Mãi tới lúc anh chui ra khỏi cửa hang và lên được thuyền thì mới hiểu ra rằng mình vẫn còn sống.

Và hai người này đúng thật là thiên thần của anh.

Vì nếu không có sự kiên trì của hai người họ, không có cuộc giải cứu giành giật từng phút ấy, không có niềm tin và sự chi viện hết mình của Mark, thì có lẽ David đã chết từ 2 tiếng trước rồi.

Chuyện David sống sót cũng một lần nữa chứng minh rằng, gặp nạn trong hang ngầm mà muốn sống thì điều kiện đầu tiên là phải có túi khí, và còn phải tìm ra được túi khí ấy.

Còn một điều kiện nữa là phải có người không bỏ cuộc, kiên trì đi cứu mình.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp