
Tấm ảnh chụp lúc 15 giờ 15 và cuộc cãi nhau kéo dài 40 năm
Cùng một ngọn núi, 50 ngày chết 3 người, mà cả năm đó tổng số người leo mới có 27. Thảm nhất là một đội 7 người, xuống tới trại nền chỉ còn lại 1.
Cùng một ngọn núi, 50 ngày chết 3 người, mà cả năm đó tổng số người leo mới có 27.
Thảm nhất là một đội 7 người, xuống tới trại nền chỉ còn lại 1.
Hai con số ấy là cách người ta vẫn kể về mùa hè năm 1986 trên K2, và cả hai đều cần chỉnh lại trước khi đi tiếp.
Số người chết mùa ấy không phải 3 mà là 13, rải suốt 51 ngày từ 21 tháng 6 tới 10 tháng 8.
Còn con số 27 là số người LÊN TỚI ĐỈNH, kỷ lục thế giới lúc bấy giờ, chứ không phải số người có mặt trên núi.
Mùa hè năm ấy dưới chân K2 có 9 đoàn thám hiểm, hơn 10 quốc tịch và hơn 100 nhà leo núi.
Lấy 13 chia cho 27 rồi gọi kết quả là tỷ lệ tử vong là chia sai mẫu số.
Cách nói vừa đúng vừa đủ nặng thì đơn giản hơn nhiều: 9 đoàn, hơn 100 người, 27 người chạm đỉnh, 13 người không về.
Câu "K2 nguy hiểm gấp 10 lần Everest" cũng không đúng.
Tính trên mỗi người lên tới đỉnh, K2 nguy hiểm hơn Everest khoảng 4 đến 5 lần tuỳ mốc dữ liệu.
K2 cao 8.611 mét, đứng trên biên giới Pakistan và Trung Quốc, trong dãy Karakoram.
Nó là ngọn cao thứ nhì thế giới, và trong bảng tỷ lệ tử vong của các đỉnh 8.000 mét thì nó cũng đứng thứ nhì, sau Annapurna I.
Người Ba Lan gọi mùa hè 1986 là Mùa Hè Đen.
Bài này không kể 13 cái chết ấy.
Nó chỉ kể một cái lều, ở độ cao khoảng 7.900 mét, trong 6 ngày cuối cùng của mùa.
Và nó bắt đầu bằng một tấm ảnh.
Tấm ảnh được bấm lúc 15 giờ 15 phút chiều ngày 4 tháng 8 năm 1986.
Người bấm máy là Willi Bauer, người Áo, đang đứng trên đỉnh K2.
Trong khung hình, phía dưới ông, hai người đang đi lên, chỉ còn cách đỉnh khoảng 150 mét.
40 năm sau, người ta vẫn còn cãi nhau xem tấm ảnh ấy chứng minh điều gì.
Và cả hai bên cãi nhau đều là người có mặt ở đó.
Trại 4 trên tuyến Abruzzi nằm ở khoảng 7.900 mét, một số nguồn ghi 7.950 mét.
Nó nằm hẳn trong cái mà dân leo núi gọi là vùng chết: độ cao mà cơ thể người không còn hồi phục được nữa, chỉ hao đi.
Ở đó mỗi hơi thở lấy được chừng 1 phần 3 lượng oxy so với dưới đồng bằng.
Ngủ không phục hồi sức.
Ăn thì dạ dày không tiêu nổi.
Vết thương không lành.
Người khoẻ mạnh nằm yên không làm gì ở 7.900 mét vẫn yếu đi mỗi giờ, và tốc độ yếu đi ấy không dừng lại được bằng ý chí.
Đó là điều quan trọng nhất cần hiểu trước khi đọc phần sau.
Không ai trong cái lều ấy đang chờ đợi.
Tất cả đang trôi xuống, đều đặn, cùng một hướng.
7 người ở Trại 4 hôm ấy không phải một đội.
Đó là điểm dễ bị kể sai nhất của cả vụ.
Họ đến từ 4 quốc tịch và ít nhất 4 đoàn khác nhau, gộp lại thành một nhóm chỉ vì cùng chọn một cửa sổ thời tiết.
Alfred Imitzer, Hannes Wieser và Willi Bauer là người Áo, đi trong đoàn Áo.
Kurt Diemberger cũng là người Áo, nhưng đi trong đoàn Ý mang tên Quota 8000, cùng với Julie Tullis người Anh.
Dobrosława Miodowicz-Wolf, biệt danh Mrówka, tiếng Ba Lan nghĩa là con kiến, là người Ba Lan.
Và Alan Rouse là người Anh, trưởng đoàn của một đoàn Anh đã tan rã.
Đoàn của Rouse gồm 8 người, dự định leo sườn Tây Bắc từ Savoia Saddle.
Họ lên được tới khoảng 7.300 mét cuối tháng 6 rồi không đi tiếp được.
Đoàn giải tán, phần lớn thành viên về nước.
Rouse ở lại.
Ông chuyển sang tuyến Abruzzi và nhập vào những người khác đang còn trên núi, không phải theo một kế hoạch chung nào, mà vì đó là cách duy nhất để còn được leo.
Ngày 4 tháng 8, ông trở thành người Anh đầu tiên đứng trên đỉnh K2.
Đó là một kỷ lục quốc gia, và nó phải trả bằng một cái giá mà không giấy tờ nào ghi lại được.
Trên đoạn cuối lên đỉnh, tuyết sâu và không có dấu chân người đi trước.
Rouse là người phá đường gần như suốt quãng ấy.
Phá đường ở trên 8.000 mét nghĩa là người đi đầu lún tới đùi, đạp từng bước một, còn những người phía sau đi trong vệt đã có sẵn.
Người đi đầu tiêu gấp nhiều lần sức so với người thứ hai.
Rouse lên tới đỉnh vào khoảng 4 giờ chiều, cùng Imitzer và Bauer.
Ông là người kiệt nhất trong 7 người, và ông kiệt vì đã kéo cả nhóm đi.
Julie Tullis và Kurt Diemberger lên sau.
Hai người này quen nhau khoảng 10 năm và đã làm chung một đội quay phim trên núi cao chừng 5 đến 6 năm, cái mà báo chí Anh khi ấy gọi là đội quay phim cao nhất thế giới.
Tullis là người phụ nữ Anh đầu tiên đứng trên đỉnh K2.
Giờ hai người chạm đỉnh là chi tiết mà đến bây giờ vẫn còn hai phiên bản, và đó chính là cuộc cãi nhau 40 năm sẽ nói ở phần cuối.
Điều không ai cãi là trên đường xuống, ngay tối hôm ấy, hai người bị trượt ngã.
Họ không về được tới lều, phải đào một hố tuyết và nằm qua đêm trong đó.
Người thứ bảy, Mrówka, không lên tới đỉnh.
Cô đã quay đầu ở dưới Bottleneck ngày 4 tháng 8, quyết định mà mọi cuốn sách dạy leo núi đều gọi là đúng đắn.
Cô cũng là người sẽ đi xa nhất trong số những người không về.
Ngày 5 tháng 8, cả 7 người tập kết ở Trại 4.
Cùng ngày hôm ấy, bão tới.
Ngày một và ngày hai trôi qua trong một thứ gió không có nhịp.
Bão Karakoram không giống bão ở nơi khác vì nó không ngắt quãng.
Gió trên đỉnh có lúc vượt 160 kilômét mỗi giờ.
Ra khỏi lều trong điều kiện đó không phải chuyện dũng cảm hay hèn nhát, nó đơn giản là không đi được: người bị thổi ngã, mắt không nhìn thấy gì, và mất phương hướng ở 7.900 mét là hết.
Hai ngày đầu, cả nhóm vẫn tin bão sẽ ngớt.
Đó là giả định hợp lý.
Bão trên K2 hiếm khi kéo dài quá 2 đến 3 ngày, và cả 7 người đều là dân có kinh nghiệm.
Họ vẫn nói chuyện được với nhau.
Vẫn còn ít đồ ăn, vẫn còn nhiên liệu để đun tuyết thành nước.
Cái giả định ngày mai sẽ đi được khiến người ta ăn tiếp phần dự trữ của hôm nay.
Đó không phải sai lầm, đó là cách duy nhất để còn sức mà đi khi cửa sổ mở ra.
Nhưng cửa sổ không mở ra.
Ngày thứ ba, nhiên liệu hết.
Đây là chi tiết quyết định toàn bộ phần còn lại, và cũng là chi tiết người ngoài hay bỏ qua vì nghe không đáng sợ bằng gió 160 kilômét.
Trên núi cao, nước không có sẵn.
Nước là tuyết được đun chảy bằng bếp.
Hết nhiên liệu nghĩa là hết nước, chứ không phải phải ăn tuyết thay thế.
Ăn tuyết ở độ cao đó gần như vô dụng: cơ thể phải đốt nhiệt để làm tan nó trong miệng, và nhiệt là thứ đang thiếu nhất.
Một người ở 7.900 mét mất khoảng 4 đến 5 lít nước mỗi ngày chỉ qua hơi thở, vì không khí lạnh và khô tới mức mỗi lần thở ra là một lần bay hơi.
Mất nước làm máu đặc lại.
Máu đặc thì tim phải bơm mạnh hơn để đẩy oxy đi, mà oxy thì vốn đã thiếu.
Từ đó là một vòng khép kín: càng khát càng thiếu oxy, càng thiếu oxy càng lẫn, càng lẫn thì càng không xoay xở được để bớt khát.
Đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng 8, Julie Tullis chết trong lều.
Nguyên nhân được ghi lại là phù phổi độ cao, dịch tràn vào phổi, một trong hai kiểu chết đặc trưng của vùng chết.
Trước đó bà đã mất thị lực và suy sụp nhanh.
6 người còn lại ở lại trong cái lều ấy thêm 3 ngày nữa.
Ngày thứ tư và ngày thứ năm không có tường thuật chi tiết nào, và điều đó tự nó nói lên một chuyện.
Cả hai người sống sót sau này đều kể rằng trí nhớ của họ về quãng ấy đứt đoạn.
Đó là biểu hiện kinh điển của thiếu oxy kéo dài: não ghi được sự kiện rời rạc, không ghi được trình tự.
Điều xác minh được là tình trạng của Alan Rouse xấu đi nhanh hơn tất cả.
4 ngày trước ông vừa lập một kỷ lục quốc gia.
Giờ ông không tự đứng dậy được, và không còn tỉnh táo liên tục.
Báo cáo của American Alpine Journal năm 1987 mô tả ông ở Trại 4 bằng đúng hai chữ: mê sảng, và cận kề cái chết.
Có nhiều dị bản kể lại những câu Rouse nói trong lều những ngày đó.
Không dị bản nào truy được về một nguồn gốc, nên bài này không dẫn câu nào.
Ngày thứ sáu, 10 tháng 8, bão ngớt.
6 người trong lều, một người đã chết, một người không đi được.
Không ai để lại ghi chép về việc quyết định được đưa ra như thế nào và trong bao lâu.
Điều được ghi lại là kết quả: 4 người còn đi được rời lều, để Alan Rouse ở lại cùng ít đồ ăn và đồ giữ ấm.
Jim Curran, nhà làm phim có mặt ở trại nền và sau này viết cuốn sách được coi là bản tường thuật chính thức, bênh vực quyết định đó là điều cần thiết để cứu những người còn lại.
American Alpine Journal thì ghi ngắn hơn: số phận không rõ.
Không ai tận mắt thấy Rouse chết, và không ai biết ông còn sống thêm bao lâu sau khi cái lều được kéo khoá lại.
4 người ra khỏi lều.
Họ đi được khoảng 100 mét.
Rồi Alfred Imitzer gục xuống.
Rồi Hannes Wieser gục xuống.
Cả hai không đứng dậy nữa, và chết ngay tại chỗ đó, ngay dưới Trại 4.
Đây là chỗ mà cả vụ này lật ngược mọi trực giác thông thường.
5 ngày nằm im trong lều giết một người.
100 mét đi bộ đầu tiên giết hai người.
Lý do không bí ẩn.
Nằm yên trong lều, cơ thể vẫn suy nhưng suy chậm, vì nhu cầu oxy ở mức tối thiểu.
Đứng dậy và đi ở 7.900 mét sau 5 ngày mất nước là đặt lên một hệ tuần hoàn đã cạn kiệt một đòi hỏi mà nó không còn đáp được.
Cái lều không phải nơi an toàn.
Nó chỉ là nơi hoá đơn được hoãn lại.
Còn 3 người: Willi Bauer, Kurt Diemberger và Mrówka.
Họ xuống tới Trại 3 ở khoảng 7.350 mét và phát hiện ra điều tệ nhất có thể xảy ra vào lúc đó.
Trại 3 đã bị tuyết lở phá sạch.
Toàn bộ đồ ăn và nhiên liệu dự trữ ở đó, thứ mà cả 3 đang trông vào, không còn.
Nghĩa là không được dừng.
3 người kiệt sức, sau 5 ngày không nước, buộc phải đi tiếp xuống Trại 2 trong cùng một mạch.
Mrówka tụt lại phía sau.
Cô không tới được Trại 2.
Cô chết trên đoạn giữa Trại 3 và Trại 2, trên hệ dây cố định.
Theo một số tường thuật lưu truyền sau này, thi thể cô được tìm thấy một năm sau vẫn còn mắc vào dây, đứng thẳng tựa vào vách.
Cần nói rõ: chi tiết này không có trong báo cáo American Alpine Journal năm 1987, nó chỉ xuất hiện ở các nguồn thứ cấp.
Đây là hình ảnh mạnh nhất của cả mùa hè 1986, và cũng là hình ảnh khó xác minh nhất.
Bauer và Diemberger tới được Trại 2 trong đêm, nơi vẫn còn nguyên đồ ăn và nhiên liệu.
Hôm sau, ngày 11 tháng 8, Diemberger kiệt sức nằm lại.
Bauer đi một mình xuống cầu cứu, tới được trại tiền tiêu lúc chạng vạng.
Một đội 3 người lên tìm, thấy Diemberger vào khoảng nửa đêm và dìu ông về trước rạng sáng.
Ngày 16 tháng 8, trực thăng chở cả hai đi.
Cả hai bỏng lạnh nặng và sau đó phải cắt bỏ nhiều ngón tay, ngón chân.
7 người vào lều.
2 người xuống núi.
Câu hỏi hiển nhiên là sao không ai lên cứu.
Câu trả lời là không có ai để lên.
Trên K2 không tồn tại cứu hộ trên cao, cả năm 1986 lẫn bây giờ.
Trực thăng quân đội Pakistan chỉ lên được tới trại nền, từ đó trở lên là tự lo, hoặc trông vào những người đang leo cùng mình, mà những người ấy cũng đang kiệt như mình.
Năm 1986 lại còn không có điện thoại vệ tinh, không có dự báo thời tiết theo giờ gửi lên trại cao, không có máy đo nồng độ oxy trong máu.
Cách duy nhất để biết trên kia đang xảy ra chuyện gì là nhìn lên bằng ống nhòm khi trời quang.
Suốt 5 ngày bão, trời không quang.
Nhưng chuỗi nhân quả thật sự bắt đầu sớm hơn thế nhiều, và không mắt xích nào trong đó là một sai lầm ngu ngốc.
Mắt xích thứ nhất là nhóm này không phải một đội.
7 người từ 4 đoàn không có chung một trưởng đoàn, không có chung một quy tắc quay đầu, không có chung kế hoạch dự trữ.
Khi mọi thứ trơn tru thì điều đó không hề gì.
Khi phải ra một quyết định đau đớn dưới áp lực, ai chờ ai, khi nào thì bỏ, thì không có ai được cả nhóm mặc nhiên công nhận là người quyết.
Mắt xích thứ hai là cửa sổ thời tiết chung.
Chính vì cùng nhìn một khoảng trời hửng, nhiều đoàn cùng lên một lúc.
Điều này làm tăng số người ở trên cao cùng thời điểm, và tăng khả năng tất cả cùng bị kẹt bởi cùng một cơn bão.
Sự đông đúc kỷ lục của mùa 1986 không trực tiếp giết ai, nhưng nó gom 7 người vào một cái lều thay vì 2 hoặc 3.
Mắt xích thứ ba là cái giá của việc phá đường.
Alan Rouse lên tới đỉnh với tư cách người Anh đầu tiên, và ông tới đó trong tình trạng đã tiêu gần hết vốn liếng thể lực để mở đường cho những người khác.
Người mạnh nhất nhóm thường là người phá đường, và vì thế thường là người xuống dốc sức nhanh nhất khi tình huống kéo dài.
Mắt xích thứ tư là hết nhiên liệu quan trọng hơn hết đồ ăn.
Người ta nhịn ăn được nhiều ngày.
Người ta không nhịn uống được nhiều ngày, nhất là ở nơi mỗi hơi thở lấy đi một phần nước của cơ thể.
Khi cái bếp tắt ở 7.900 mét, đồng hồ đếm ngược bắt đầu chạy, và nó chạy nhanh hơn cơn bão ngoài kia.
Quay lại tấm ảnh chụp lúc 15 giờ 15.
Trong cuốn sách của Jim Curran, cuốn đã trở thành bản tường thuật chính thức về mùa hè 1986, giờ đăng đỉnh của Kurt Diemberger và Julie Tullis được ghi là 7 giờ tối.
7 giờ tối là một giờ khủng khiếp.
Trên 8.000 mét, còn đứng trên đỉnh lúc đó nghĩa là gần như chắc chắn phải xuống trong bóng tối, và hàm ý rất rõ: lẽ ra hai người ấy phải quay đầu từ lâu, và sự chậm trễ của họ góp phần kéo cả nhóm vào thảm hoạ.
Diemberger phản đối cách ghi đó suốt phần đời còn lại của ông.
Trong cuốn sách của mình, ông viết rằng họ lên tới đỉnh không muộn hơn 5 giờ 30 chiều.
Bằng chứng ông đưa ra là tấm ảnh, tấm do chính Willi Bauer bấm máy lúc 15 giờ 15, từ trên đỉnh nhìn xuống, thấy hai người còn cách khoảng 150 mét.
Lập luận của ông đơn giản đến mức khó bác: không ai mất gần 4 tiếng để đi 150 mét cuối cùng, kể cả ở độ cao ấy.
Ông còn nói rằng sau khi về châu Âu, ông đã đề nghị được ngồi xuống đối chiếu từng chi tiết trước khi cuốn sách in ra, và bị từ chối.
Bài này không phân xử, không phải vì né tránh, mà vì cái vênh đó chính là thứ đáng kể lại nhất.
Ở 7.900 mét, thứ hỏng trước cơ thể là trí nhớ.
Thiếu oxy kéo dài làm não ghi được sự kiện nhưng không ghi được thứ tự và thời lượng, đó là lý do cả hai người sống sót đều mô tả những ngày trong lều như những mảnh rời.
Sau đó, cả hai đều thật lòng tin vào phiên bản của mình.
Và không có ai khác để hỏi.
5 người còn lại trong cái lều ấy đều đã chết.
Không có camera, không có nhật ký hành trình, không có nhân chứng thứ ba.
Người sống sót buộc phải kể lại câu chuyện của người chết, đó là nghĩa vụ, và cũng là quyền lực.
Ai xuống được núi thì người đó viết sử.
Kurt Diemberger sống thêm gần 40 năm với một phiên bản không được tin, và mất năm 2024, thọ 92 tuổi.
Alan Rouse có một cô con gái.
Cô bé chào đời 3 tuần sau khi ông chết trong cái lều ở 7.900 mét, và không bao giờ gặp cha mình.
Trong hồ sơ chính thức, ông là người Anh đầu tiên đứng trên đỉnh K2.
Về những gì xảy ra sau đó, American Alpine Journal chỉ ghi ba chữ, và cho tới hôm nay vẫn chưa ai bổ sung thêm được gì: số phận không rõ.


