Halab
Mảnh giấy bút chì 12 chữ và 45 năm không tìm thấy một mảnh xương
Sinh tồn

Mảnh giấy bút chì 12 chữ và 45 năm không tìm thấy một mảnh xương

Vụ mất tích của Bành Gia Mộc đến nay vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của Lop Nur.

· 20 phút đọc · Halab

Vụ mất tích của Bành Gia Mộc đến nay vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của Lop Nur.

Thứ duy nhất ông để lại là một mảnh giấy viết bằng bút chì, kẹp trong tập bản đồ đặt trên ghế phụ chiếc xe việt dã của chính ông.

Trên đó có đúng mười hai chữ: tôi đi về phía đông tìm giếng nước, Bành, 17/6, 10 giờ 30.

Người tài xế riêng của ông, Vương Vạn Hiên, tìm thấy mảnh giấy ấy lúc 12 giờ 30 trưa, khi lên xe lấy áo.

Có một chi tiết trên mảnh giấy làm người ta nghĩ mãi: con số 17 chỉ ngày được viết đè lên số 16.

Nghĩa là ông đã viết nó từ đêm hôm trước, rồi sáng hôm sau mới sửa lại ngày.

Nghĩa là quyết định ấy không bột phát giữa trưa, mà đã nằm trong đầu ông suốt một đêm bên đống lửa.

Đó là vật duy nhất còn lại chạm được vào ý nghĩ của người mất tích.

Người viết nó là Bành Gia Mộc, 55 tuổi, nhà hoá sinh nổi tiếng Trung Quốc, quê Phiên Ngung, Quảng Đông, Phó viện trưởng Phân viện Tân Cương của Viện Khoa học Trung Quốc.

Tên khai sinh của ông là Bành Gia Mục.

Năm 1956, hưởng ứng lời kêu gọi khai phá tài nguyên vùng biên cương, ông chủ động xin chuyển công tác lên Tân Cương và đổi chữ cuối trong tên mình từ Mục sang Mộc.

Ông nói gia đình và chữ Mục là tiểu ái, còn thêm cỏ thêm cây cho biên cương mới là đại ái.

Năm 1957 ông đột ngột mắc ung thư, phải quay về Thượng Hải điều trị, rồi một năm sau, vừa dứt bệnh nặng, ông lại lên Tân Cương.

Chuyến năm 1980 là lần thứ ba ông vào Lop Nur, sau lần khảo sát vòng ngoài tháng 3 năm 1964 và lần đi theo đoàn làm phim tài liệu Con đường tơ lụa hợp tác Trung — Nhật tháng 11 năm 1979.

Lop Nur là trung tâm khô hạn nổi tiếng thế giới, được gọi là biển chết, một trong bốn vùng không người lớn nhất Trung Quốc, và cũng từng là nơi đặt bãi thử hạt nhân.

Bãi thử ấy nam giáp sông Khổng Tước, bắc tới tuyến bắc dãy Kuruktag, tây tới căn cứ Mã Lan, đông tới gần vùng Thổ Nham, nằm trải dài theo hình thoi, đông tây rộng khoảng 100 km, bắc nam khoảng 20 km.

Lấy một tuyến lớn ở phía đông làm ranh, bãi thử chia làm hai phần: phía đông gọi là nội trường, chủ yếu thử nổ hạt nhân trên không, phía tây gọi là ngoại trường, chủ yếu thử nổ hạt nhân dưới lòng đất.

Sáu tháng sau lần Bành Gia Mộc rời Lop Nur năm 1964, quả bom nguyên tử đầu tiên của Trung Quốc nổ thành công tại khu ngoại trường.

Hai năm sau đó là quả bom khinh khí đầu tiên.

Theo tài liệu công khai, tính đến năm 1996, khu vực này đã tiến hành ít nhất hơn 40 lần thử hạt nhân.

Đến năm 1980, nước ở đây gần như đã biến mất sạch, chỉ còn vài khu rất nhỏ thỉnh thoảng có suối trồi lên, còn lại đều thành đất mặn kiềm, gobi hoặc vùng cát chảy.

Nhưng tình yêu của ông với nơi này không giảm đi chút nào.

Ông từng nói ông không muốn Lop Nur toàn là dấu chân người nước ngoài để lại, rằng là người Trung Quốc thì nên chôn xương mình ở Lop Nur, để đất ở đó có thêm một chút chất hữu cơ của người Trung Quốc.

Không ai ngờ câu nói ấy cuối cùng lại thành lời sấm.

Sau chuyến đi theo đoàn làm phim năm 1979, ông về xin cấp trên cho tiến hành một cuộc khảo sát khoa học tổng hợp Lop Nur, và đề nghị rất nhanh được phê duyệt.

Đầu tháng 5 năm 1980, khi Lop Nur vẫn còn là khu quân sự cấm, đoàn khảo sát do ông làm đội trưởng xuất phát từ Thiện Thiện.

Đi được hai ngày, họ tới căn cứ Mã Lan thuộc huyện Hoà Thạc, cơ sở thử hạt nhân sớm nhất và khi đó là duy nhất của Trung Quốc.

Tiếp tế xong, đoàn đi tiếp, và quân số từ 10 người tăng thành 11.

Họ đi theo một con đường quân dụng có tên đường Thông Cần, từ căn cứ Mã Lan ở ngoại trường chạy thẳng tới rìa đông của nội trường.

Ngày nay phóng to bản đồ vệ tinh vẫn còn thấy hai bên đường là cả loạt cụm công trình bỏ hoang, tức các trạm nghiên cứu, trạm quan trắc và doanh trại bộ đội năm xưa.

Đi hết một ngày, đoàn tới căn cứ 720 trong khu ngoại trường.

Vừa nghỉ dưỡng sức, họ vừa vạch tuyến xuyên qua lòng hồ Lop Nur.

Kế hoạch ban đầu là từ căn cứ 720 đi thẳng xuống nam, cắt ngang vùng yardang để tới cổ thành Lâu Lan, rồi từ phía đông nam xuyên vào giữa lòng hồ.

Nhưng nhiệt độ quá cao, lại thêm các cụm yardang xe không thể vượt qua, nên tuyến bị đổi lại: đi về phía đông, men theo lòng sông xuyên qua vùng yardang Long Thành để vào lòng hồ, tây tiến tới cổ thành Lâu Lan khảo sát, rồi theo đường cũ quay ra, xuôi nam tới giữa lòng hồ, sau đó rẽ hướng tây nam.

Ngày 5 tháng 6, đoàn tới đích là nông trường Mễ Lan, sớm hơn kế hoạch một tháng.

Các đội viên vừa mừng vừa sợ: mừng vì sắp về Urumqi đoàn tụ với gia đình, sợ vì địa hình hiểm của Lop Nur đã nhiều lần đẩy họ tới ranh giới sống chết.

Riêng Bành Gia Mộc thì khác hẳn mọi người, ông có phần ủ dột.

Ông cho rằng chuyến khảo sát thu hoạch quá ít, mục tiêu cốt lõi là tìm khoáng sản đặc biệt vẫn chưa đạt.

Nghĩ một lúc, ông bất ngờ đưa ra đề nghị làm cả đoàn choáng váng: quay lại Lop Nur lần nữa, làm nốt các hạng mục còn dở, đồng thời mở một tuyến xuyên sa mạc mới.

Ông nói lập được một đoàn khảo sát không dễ, không thể phí cơ hội.

Khi đó, so với thời hạn kết thúc khảo sát đã định, họ vẫn còn hơn 20 ngày.

Các đội viên đã kiệt sức đều phản đối: khó khăn lắm mới ra được, giờ lại còn liều mạng chui vào.

Nhưng ông tính rất cứng, lại kiêm cả quyền đội trưởng lẫn phó viện trưởng, thêm việc cấp trên cuối cùng cũng duyệt kế hoạch, nên các đội viên đành phải theo.

Tuyến mới đi về đông theo lòng sông cổ Sơ Lặc, qua Lạc Ngoã Trại, Kumkuduk và Ba Y Tuyền, lên bắc xuyên dãy Aktag, rồi rẽ tây tìm lối mới vào Lop Nur, tới bờ tây hồ thì quay hướng tây nam về nông trường Mễ Lan.

Tổng hành trình khoảng 800 km, nhiều nhất là 7 ngày.

Quân số vẫn là 11: ngoài Bành Gia Mộc còn 5 nghiên cứu viên, 3 tài xế và 2 quân nhân.

Họ có 3 xe: một chiếc việt dã riêng của ông do tài xế Vương Vạn Hiên lái, một chiếc 8 chỗ chở nghiên cứu viên và quân nhân, và một chiếc xe tải Gas63 tải trọng 1,5 tấn dùng chở vật tư.

Họ mang theo lương thực và nước đủ dùng đúng 7 ngày, 3 thùng lớn nước, 5 thùng lớn xăng, cùng đồ cắm trại, búa địa chất, la bàn, máy ảnh hiệu Hải Âu, một máy điện đài mật danh Trường Giang, hai khẩu súng bắn pháo hiệu và một ít vũ khí phòng thân.

Bảy giờ rưỡi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1980, Bành Gia Mộc dẫn 10 đội viên chính thức rời Mễ Lan.

Không ai ngờ hướng gió và địa hình quá phức tạp khiến trong 3 ngày họ chỉ đi được 150 km.

Thời gian và vật tư dự tính đã tiêu mất một nửa, mà quãng đường mới đi được một phần năm.

Nghĩa là nếu đi tiếp, lúc quay về họ sẽ rơi vào cảnh cạn sạch nước lẫn nhiên liệu.

Thêm nữa, khi đó đang là tháng 6: ban ngày ở Lop Nur nhiệt độ thấp nhất 42 độ, cao nhất 50 độ, còn nhiệt độ mặt đất vọt lên khoảng 75 độ.

Các đội viên khuyên ông quay đầu, có người còn cãi nhau to.

Nhưng ông kiên quyết đi tiếp, nói lùi lại là đào ngũ, cùng lắm thì vẫn có thể liên lạc căn cứ xin cứu viện.

Trưa ngày 16 tháng 6, một đàn lạc đà hoang xuất hiện và phá vỡ thế bế tắc.

Các đội viên vây bắt được một con, bổ sung thêm thực phẩm, tâm trạng tiêu cực tạm tan.

Con lạc đà hoang ấy về sau được làm thành bộ tiêu bản xương lạc đà hoang đầu tiên của Trung Quốc.

Đoàn cắm trại ngay tại chỗ, phía tây Kumkuduk khoảng 10 km.

Đến chiều, tâm lý bi quan quay lại, vì nước của họ chỉ còn rất ít, lại đã đổi màu và bốc mùi.

Cả đoàn nhất trí rằng dù tiến hay lui, họ cũng không còn tự thoát ra được nữa, lối ra duy nhất là gọi căn cứ cầu cứu.

Bành Gia Mộc cuối cùng nhượng bộ, nhưng ra điều kiện: tìm nước trước, đánh điện sau.

Vì ông tin chắc Kumkuduk có nước.

Kumkuduk trong tiếng Duy Ngô Nhĩ nghĩa là giếng cát, và sử liệu ghi chép nơi đây quả thật từng có suối.

Nhưng tới năm 1980, cái giếng cát ấy đã cạn từ lâu, chỉ còn lại một hố đất rộng 2 mét, sâu 3 mét.

Ông vẫn nhất quyết bảo phó đội trưởng Uông Văn Tiên, cũng là chuyên gia địa chất thuỷ văn, đi tìm, và kết quả đương nhiên là không thấy.

Ông vẫn chưa bỏ cuộc, còn yêu cầu mở rộng phạm vi, căn cứ là trên bản đồ Liên Xô năm 1930 có đánh dấu chỗ này và phía đông còn giếng.

Căn cứ thứ hai là tháng 1 năm 1980, đoàn làm phim Con đường tơ lụa từng lấy được nước ở Ba Y Tuyền gần đó.

Ba Y Tuyền vốn là một hố nước sâu do một đơn vị bộ đội Lan Châu đào khi đi ngang qua hồi thập niên 1950.

Nhưng trại của họ cách Ba Y Tuyền ít nhất còn 50 km, mà xe tải chỉ còn nửa thùng dầu, đi liều chỉ càng thêm nguy hiểm, nên không đội viên nào chịu.

Đến tối, ông buộc phải đồng ý gọi căn cứ cầu cứu, và tự tay soạn bức điện.

Trong điện, ông không nói là cần chở nước tới ngay, rất có thể vì muốn chừa lại một khoảng thời gian để tự mình tìm nước trước, như vậy thì máy bay khỏi phải bay.

Một đội viên sau này kể lại rằng bức điện tối hôm đó chỉ báo rằng đoàn đang thiếu nước, một cách rất mơ hồ, bởi nếu nói thẳng là xin nước thì ông tuyệt đối không đồng ý.

Ông từng nói với các đội viên rằng trực thăng bay một giờ tốn 2.000, chở 500 kg nước là mất sáu, bảy nghìn, sẽ thành gánh nặng lớn cho nhà nước.

Với lớp cán bộ khoa học kỹ thuật thế hệ ấy, thứ họ xử lý là sự nghiệp, không có chuyện sống chết cá nhân nào khác.

Căn cứ 720 cách đó 210 km bắt được bức điện đầu tiên, rồi chuyển tiếp thông tin cho căn cứ Mã Lan.

Bên Mã Lan đọc nội dung điện thì hơi khựng lại, vì không ai từng nghe tới địa danh Kuruk-duk, nên họ ngờ rằng ông đã nói nhầm Kumkuduk thành Kuruk-duk.

Căn cứ đành đánh điện lại xác nhận, yêu cầu đoàn báo toạ độ cụ thể của điểm cắm trại, đồng thời cho biết thủ trưởng quân khu đã đồng ý chi viện.

Đọc điện trả lời, các đội viên như trút được gánh nặng, định hôm sau đo toạ độ rồi hồi âm, và ăn tối xong thì chui vào lều ngủ.

Chỉ còn Bành Gia Mộc ngồi ngoài lều lột da con lạc đà hoang.

Hai giờ sáng, có đội viên dậy đi tiểu, vẫn thấy ông đang cho thêm củi vào đống lửa.

Không ai biết đêm đó ông nghĩ những gì.

Chín giờ sáng ngày 17 tháng 6, trong bữa sáng, ông lại nêu chuyện đi tìm nước, và toàn bộ đội viên phản đối.

Không ai hiểu nổi: ngày mai căn cứ sẽ chở nước tới, việc gì phải hành nhau thế.

Uông Văn Tiên cãi nhau dữ dội với ông, nói ông muốn tự lực cánh sinh, còn chúng tôi muốn sống.

Ông vẫn cố chấp: một mặt cứ liên lạc với bộ đội, một mặt đi về phía đông tìm giếng nước; nếu tìm được giếng thì báo bộ đội khỏi phải điều máy bay chở nước nữa.

Nói xong ông rời lều, ra ngồi trong chiếc xe việt dã riêng của mình.

Nhưng lúc này không còn ai nghe ông nữa.

Mọi người đều chọn ở lại trong lều: người đo toạ độ, người đánh bài, người đọc sách, người ngủ.

Chín giờ rưỡi, điện viên gửi toạ độ điểm đóng quân về căn cứ, và lúc đánh bức điện ấy Bành Gia Mộc không tham gia.

Mười một giờ rưỡi, căn cứ trả lời: máy bay sẽ tới Kumkuduk ngày 18, các anh đừng di chuyển, ở nguyên tại chỗ chờ lệnh.

Mười hai giờ trưa, Uông Văn Tiên cầm bức điện vừa dịch ra, định đưa cho ông xem, nhưng ông không có trên xe.

Nửa tiếng sau, Vương Vạn Hiên lên xe lấy áo và phát hiện mảnh giấy.

Khi rời trại, ông mặc bộ quần áo lao động màu xanh lam, đội mũ che nắng trắng, chân đi đôi giày bảo hộ cổ lửng da lộn số 42, mắt kính dán thêm miếng lọc màu xanh lục.

Kiểm đếm đồ cá nhân xong, cả đoàn suy ra ông mang theo một bình nước đựng khoảng 2 kg nước, chiếc máy ảnh Hải Âu, một túi giả da màu xám đựng la bàn, đèn pin dạng bút, búa địa chất, dao găm, một cuốn sổ bìa cứng, một gói nhỏ kẹo dừa mua ở nông trường Mễ Lan, và một cái bật lửa.

Điều kỳ lạ là thứ quan trọng nhất với ông là thuốc chống ung thư, cùng tấm bản đồ có đánh dấu Ba Y Tuyền, thì ông lại không mang.

Có thể thấy ông không hề định đi xa.

Lúc đó nhiệt độ ngoài lều khoảng 52 độ, nhiệt độ mặt đất tới 64 độ.

Trong môi trường như vậy, đi bộ tìm nước chẳng khác nào tìm chết.

Biết tin, mọi người lập tức đổ nước đầy bình, chuẩn bị ra ngoài tìm ông.

Nhưng đến 3 giờ chiều, Lop Nur bỗng nổi bão cát, không những không tìm được người mà còn nguy hiểm cho chính họ.

Hơn một tiếng sau, gió ngớt đi một chút, họ vội nổ máy xe chạy về hướng đông, khi ấy đã hơn 5 tiếng trôi qua kể từ lúc ông rời trại.

Ở chỗ cách trại 6 km, họ còn nhìn thấy dấu chân ông.

Nhưng vào tới vùng đất mặn kiềm thì dấu chân biến mất, và khi sang vùng cát thì dấu chân cũng không hiện ra nữa, nên họ đành quay về trại.

Các đội viên chưa vội báo chuyện này cho căn cứ, bởi ông mới đi chưa lâu, biết đâu tối là về.

Trời tối, họ đốt hai đống lửa bằng cành hồng liễu, cứ cách một tiếng lại bắn ba phát pháo hiệu nhìn thấy được từ ba, bốn chục cây số, và lái xe lên đụn cát bật đèn pha chiếu về hướng đông bắc, mong ông về không đi lạc hướng.

Nhưng tới 2 giờ sáng hôm sau, ông vẫn không về.

Lúc đó họ mới vội đánh điện báo căn cứ, nội dung là phó viện trưởng Bành ngày 17 một mình ra ngoài chưa về, chúng tôi đang tiếp tục tìm, đề nghị phòng tác chiến lập tức báo thường vụ Phân viện Tân Cương, xin điều máy bay tìm kiếm và cho biết giờ cất cánh.

12 giờ 05 trưa ngày 18 tháng 6, trực thăng do căn cứ điều tới, dỡ nước và dầu xuống rồi lập tức cất cánh, bay siêu thấp quét về hướng đông.

Mặt đất rõ tới mức nhìn thấy cả con thỏ, nhưng không hề có một bóng người.

Bốn mươi phút sau, trực thăng trở về tay không, rồi chở một đội viên đang ốm về căn cứ 720.

Các đội viên lại lên đường, lần này đổi sang hướng đông bắc, vì hướng đông trực thăng vừa quét còn phía nam là sa mạc.

Quả nhiên, ở chỗ cách trại khoảng 8 km về đông bắc, họ phát hiện dấu chân khớp với giày của ông.

Hơn nữa dấu chân có vết đi tới đi lui, cho thấy lúc đó vì một lý do nào đó ông đang do dự.

Sau đó, trong lòng một con sông cũ, trên một đụn cát nhỏ mọc đầy lau sậy, họ lại phát hiện dấu vết có người từng ngồi.

Trong bụi lau, họ tìm được hai tờ rưỡi giấy gói kẹo dừa hiệu Quảng Đông, đúng loại kẹo ông mua ở nông trường Mễ Lan.

Nhưng lạ ở chỗ, quanh đó lại không có dấu chân ông rời đi.

Một người không thể biến mất trong không khí như thế, nên hợp lý nhất là vốn có dấu chân rời đi, chỉ vì mặt lòng sông làm dấu chân rất nông, lại thêm hơn một ngày bão cát, dấu chân đã bị xoá sạch.

Để bảo đảm an toàn cho các đội viên, căn cứ Mã Lan ra lệnh đình chỉ kế hoạch tìm kiếm tiếp theo của đoàn khảo sát.

Ngày 19 tháng 6, cả đoàn nhận lệnh chờ tại trại suốt một ngày, và Bành Gia Mộc vẫn không quay về.

Ngày 20 tháng 6, Quân khu Tân Cương huy động mấy chục xe quân sự, hơn 100 người, kèm hai trực thăng và một máy bay cứu thương, mở đợt tìm kiếm rải thảm theo hình điểm và tuyến, bắc tới thôn Hồng Thạch Cảnh, đông tới Ba Y Tuyền cách đó 50 km.

Khi họ tới được Ba Y Tuyền, cái giếng ấy hoá ra cũng đã cạn từ lâu.

Trong thời gian này, trung ương có chỉ thị yêu cầu tăng cường lực lượng tìm kiếm.

Cuối cùng đợt này huy động 136 lượt người, mỗi ngày làm việc hơn 12 tiếng, điều động 9 chiếc trực thăng và 3 máy bay An-2, cùng một đại đội 28 người từ Quân khu Lan Châu tìm ngược từ hướng Đôn Hoàng về phía Kumkuduk.

Nhưng vẫn không thu được gì.

Ngày 6 tháng 7, đợt thứ ba bắt đầu với 117 lượt người, gồm cán bộ Viện Khoa học, sĩ quan binh sĩ, và cảnh khuyển điều từ Thượng Hải, Nam Kinh, Yên Đài.

Họ dùng 48 xe, 29 lượt chuyến bay, diện tích tìm kiếm vượt 4.000 km², và kết quả vẫn là không tìm thấy.

Ngày 11 tháng 10, tờ Trung Báo ở Hồng Kông bất ngờ đăng bài nói có người trông thấy ông ở Mỹ, nhưng tin này rất nhanh bị chứng minh là tin đồn.

Ngày 10 tháng 11, đợt rải lưới thứ tư bắt đầu, lần này quét theo diện, mục tiêu là tìm di thể.

Đụn cát, bụi lau, yardang, các hố trũng, vùng cát chảy, họ không bỏ sót chỗ nào.

Diện tích tìm kiếm đạt 1.011 km², số lượt người tham gia là 1.029.

Trong quá trình đó họ thậm chí còn đào được mấy đồng tiền đồng thời Càn Long.

Nhưng riêng dấu vết của Bành Gia Mộc thì không có.

Ngày 20 tháng 7 năm 1981, Viện Khoa học Trung Quốc và các đơn vị tổ chức lễ truy điệu, nghĩa là chính thức chấp nhận sự thật rằng ông đã chết.

Tháng 1 năm 1982, bia kỷ niệm được dựng gần Kumkuduk, và cùng năm Thượng Hải truy tặng ông danh hiệu liệt sĩ cách mạng.

Cần lưu ý vị trí tấm bia ấy: nó không phải nơi đoàn khảo sát cắm trại năm đó, cũng không phải nơi ông thật sự mất tích, chỉ là vùng dấu chân đi về hướng đông của ông từng xuất hiện.

Dựng tấm bia ấy chủ yếu là để tưởng nhớ ông, chứ không nhằm tái hiện chính xác hiện trường vụ mất tích.

Trong mấy chục năm sau khi đợt tìm kiếm chính thức khép lại, vẫn luôn có những người thám hiểm dân gian đi tìm dấu vết của ông.

Tháng 4 năm 2005, một đoàn khảo sát phát hiện một xác khô trong sa mạc Kumtag, chỉ cách chỗ dấu chân ông biến mất 20 km, và thời điểm người đó gặp nạn cũng vào khoảng năm 1980.

Nhưng vì gia đình từ chối cung cấp mẫu ADN, Viện Khoa học Trung Quốc đành mời đội viên đoàn khảo sát năm xưa là Diêm Hồng Kiến tới nhận dạng, và kết quả cho thấy xác khô ấy không phải Bành Gia Mộc.

Hơn 40 năm qua, suy đoán về vụ mất tích của ông chủ yếu chia làm ba nhóm.

Trước hết là thuyết đào tẩu, có người nói ông chạy sang Mỹ hoặc Liên Xô, nhưng Lop Nur khi đó vẫn là khu quân sự cấm, phòng thủ biên giới lại rất nghiêm ngặt, chọn nơi này để đào tẩu là hoàn toàn vô lý.

Một đội viên năm xưa kể lại rằng lúc ấy họ thấy chuyện đó buồn cười: nếu có người tới đón thì phải có tiếng động, mà họ không nghe thấy gì; và nếu có máy bay hạ xuống thật thì bộ đội quốc phòng làm gì.

Thứ hai là thuyết siêu nhiên: song ngư ngọc bội, xuyên không, người ngoài hành tinh bắt đi, những thứ hoàn toàn không có căn cứ.

Thứ ba là thuyết âm mưu, nhiều người ngờ rằng ông bị chính các đội viên khác sát hại.

Khả năng này không thể nói là tuyệt đối không có, vì hai bên quả thật đã nhiều lần xảy ra tranh cãi, nhưng mâu thuẫn của họ còn xa mới tới mức phải giết người.

Họ chỉ cần đồng loạt bất hợp tác với ông là đủ, và thực tế họ đã làm đúng như thế.

Huống hồ việc nguỵ tạo mảnh giấy, dấu chân cùng giấy kẹo, một người không thể làm nổi; còn nhiều người phối hợp thì rất dễ lộ, và cũng đừng đánh giá thấp năng lực của những người làm công tác thẩm vấn.

Việc về sau nhà nước bỏ ra khoản tiền rất lớn để tổ chức mấy đợt tìm kiếm quy mô cũng cho thấy phía chính thức đã sớm loại bỏ nghi vấn nhắm vào các đội viên.

Một đội viên năm xưa nói thẳng rằng giả thuyết đó không đứng vững, bởi giết một người thì bao giờ cũng phải có đường ra, trong khi ông vừa là phó viện trưởng vừa là đội trưởng đoàn khảo sát, giữa hoang mạc như thế thì giết người xong cũng chẳng đi đâu được.

Vì vậy, tổng hợp tất cả các đầu mối, hợp logic nhất vẫn là kết luận chính thức, đại thể chia làm hai khả năng.

Khả năng thứ nhất là bị cát chảy vùi lấp.

Ông mắc ung thư nhiều năm, đêm 16 tháng 6 lại gần như thức trắng, nên khi đi tìm nước một mình ngày 17, cái nóng giữa trưa rất dễ khiến ông mất nước và ngất đi, rồi lúc bão cát nổi lên thì bị cát vùi lấp.

Sở dĩ có suy đoán này là vì đội cứu hộ phát hiện bộ xương con lạc đà hoang mà đoàn bắt được trước đó, chỉ sau một ngày đã bị cát chảy vùi mất quá nửa.

Con lạc đà hoang to như thế còn vậy, nói gì tới người.

Khả năng thứ hai là bị yardang sập xuống vùi lấp.

Gần Kumkuduk có rất nhiều địa mạo yardang, tức những gò đất vàng hình thành sau khi bị gió cát bào mòn, và dưới một số gò có hang hốc để người chui vào che nắng tránh gió cát.

Nhưng chân yardang phần lớn là cát mịn rời rạc, gặp bão cát thì rất dễ sập.

Nếu ông đã chui vào đó, ông rất dễ bị vùi lại bên trong, còn dấu chân bên ngoài thì bị bão cát phá huỷ, khiến ông giống như đột ngột biến mất.

Có người từng hỏi, quét kỹ đến mức nhìn thấy cả con thỏ, sao lại không tìm được người.

Câu trả lời của người trong cuộc là: hàng nghìn hàng vạn đụn cát, ông rốt cuộc nằm sau đụn nào.

Người vào tìm, nói là nhiều thì cũng chỉ hơn trăm người, cứ 50 mét một người, dàn lưới mà quét, giữa người nọ với người kia vẫn còn khoảng cách.

Có thể trong 50 mét ấy có hai, ba đụn cát, anh tưởng tôi đã vòng qua, tôi tưởng anh đã vòng qua.

Không tìm thấy thì là mãi mãi không tìm thấy, và không có cách nào nghiệm thu được rốt cuộc ông nằm dưới đụn cát nào.

Ngoài hai khả năng ấy còn một khả năng thứ ba được nêu ra: ông đã đi vào sa mạc Kumtag ở phía nam, đúng vùng tìm thấy xác khô năm 2005.

Không ai biết vì sao ông lại đi về hướng đó, và nếu ông thật sự bị vùi ở bên ấy thì việc tìm kiếm còn khó hơn bội phần.

45 năm sau, thứ được đào lên nhiều nhất trên mảnh đất ấy vẫn là mấy đồng tiền đồng thời Càn Long, nằm im trong cát cùng hai tờ rưỡi giấy kẹo dừa mua ở nông trường Mễ Lan.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp