Halab
Suốt ba năm tôi giúp bà cụ neo đơn ở xóm trọ, không một lần mong đền đáp
Truyện

Suốt ba năm tôi giúp bà cụ neo đơn ở xóm trọ, không một lần mong đền đáp

· 31 phút đọc · Halab

"Bà già đó có con cháu gì đâu, mày lo chi cho mệt. Được cái gì?"

"Được cái gì là sao?"

"Là mày xách nước cho bả ba tháng nay rồi đó. Tao đếm."

Thằng Khoa ở phòng đầu dãy, học cùng trường tôi trên một khóa, hay ngồi vắt chân ở bậc thềm hút thuốc và nhìn người khác làm việc.

"Xách có hai ca nước chứ mấy."

"Hai ca nước nhân ba tháng. Rồi thay bóng đèn. Rồi sửa quạt. Rồi đi chợ mua thêm phần cá."

"Mày rảnh thiệt đó Khoa."

"Tao rảnh hay mày rảnh? Tao chỉ ngồi đây thôi, còn mày chạy như con thoi."

"Bà già rồi, chân bà yếu."

"Chân bả yếu thì kệ chân bả. Con cháu bả đâu?"

"Bà không có."

"Đó. Tao nói rồi. Không có ai hết."

Tôi xách lu nước lên, đi ngang qua nó.

Nước sánh ra làm ướt ống quần.

"Ê Nam."

"Gì."

"Mày biết trong cái xóm này người ta gọi bả là gì không?"

"Không."

"Bà cụ chờ chết."

Tôi đặt lu nước xuống, nước sóng ra nền xi măng.

"Mày nói lại coi."

"Thì người ta nói vậy chứ tao đâu có nói. Tám mươi mấy tuổi, không con không cháu, ở cái phòng bốn mét vuông. Không chờ chết thì chờ cái gì?"

"Ăn nói kiểu đó có ngày bị đánh đó Khoa."

"Đánh đi. Đánh xong rồi mày cũng vẫn xách nước không công."

Tôi xách lu nước vào phòng bà Bảy, đổ vào cái chum sành sau cửa.

Phòng bà lúc nào cũng có mùi ẩm mốc trộn với mùi dầu gió.

Bà đang ngồi bó gối trên tấm chiếu, cái quạt cũ quay lệch một bên, kêu lạch cạch từng vòng.

"Cháu à."

"Dạ."

"Cái thằng ngoài kia nó nói gì cháu đó?"

"Dạ không có gì đâu bà."

"Bà điếc chứ bà chưa mù. Bà thấy nó chỉ tay vô phòng bà."

"Nó nói chuyện tầm bậy thôi bà."

"Nó nói bà không có con cháu chứ gì."

Tôi im.

"Ừ thì bà không có thiệt mà."

"Bà đừng nói vậy."

"Ngồi xuống đây bà nói cho nghe. Đứng chi cho mỏi chân."

Tôi ngồi xuống mép chiếu.

Bà lấy trong cái rổ ra hai củ khoai lang luộc còn ấm, đưa tôi một củ.

"Ăn đi. Bà luộc từ sáng, đợi cháu về."

"Bà ăn đi bà, cháu ăn cơm rồi."

"Cháu ăn cơm hồi nào? Bà nghe bụng cháu réo từ ngoài sân."

Tôi cầm củ khoai, bóc vỏ.

Khoai còn nóng, bỏng cả đầu ngón tay, tôi phải chuyền qua chuyền lại hai bàn tay.

"Bà kể cho cháu nghe đi. Con bà đi đâu?"

Bà im một lúc lâu, tay vân vê vạt áo.

Ngoài hẻm có tiếng xe máy chạy qua rồi tắt hẳn.

"Nó tên Tân. Sinh năm sáu mươi tám."

"Rồi sao bà?"

"Năm nó hai mươi hai, nó đi Nam làm ăn. Đi buôn gỗ hay buôn gì đó, bà đâu biết. Nó nói đi hai năm rồi về xây nhà cho má."

"Rồi bà."

"Rồi nó gửi về được hai lá thư. Lá đầu nói con khỏe. Lá thứ hai nói con sắp về."

"Rồi?"

"Rồi thôi."

"Thôi là sao bà?"

"Là hết. Ba mươi mấy năm nay bà không nghe được cái tin gì nữa hết."

Tôi ngừng nhai.

Miếng khoai nằm trong miệng, ngọt mà nuốt không trôi.

"Bà có đi tìm không bà?"

"Có chứ. Bà đi tới ba lần. Lần đầu bà đi xe đò xuống tận khu công nghiệp dưới xuôi, cầm tấm hình nó hỏi người ta. Người ta lắc đầu."

"Còn hai lần kia?"

"Lần hai bà xuống mấy xóm trọ công nhân. Lần ba bà ra tận miền biển vì có người nói thấy thằng nào giống giống. Bà đi ba ngày, ngủ ngoài bến xe hai đêm."

"Rồi bà tìm được không?"

"Nếu tìm được thì giờ bà đâu có ngồi đây với cháu."

Bà cười, cái cười móm mém mà tôi thấy đau hơn cả khóc.

"Sau đó bà thôi không đi nữa."

"Sao bà thôi?"

"Vì bà hết tiền. Với lại bà sợ."

"Bà sợ gì?"

Bà kéo vạt áo che đầu gối, chỉnh lại thế ngồi rất chậm.

"Bà sợ đi tìm rồi biết nó chết thiệt. Chừng nào chưa biết thì bà còn đợi được. Cháu hiểu không?"

Tôi hiểu.

Tôi hiểu tới mức không nói được câu nào.

"Còn ông thì mất năm bà bốn mươi mốt. Ổng đi làm phụ hồ, té giàn giáo."

"Trời."

"Ổng nằm viện tám ngày rồi đi. Bà bán cái xe đạp với đôi bông tai để trả viện phí, còn thiếu người ta ba trăm."

Bà đưa tay sờ dái tai, chỗ hai lỗ xỏ đã khép lại từ lâu.

"Rồi bà trả sao?"

"Bà đi ở đợ cho nhà người ta hai năm mới trả xong ba trăm đó."

Tôi ngồi im.

Ngoài kia thằng Khoa vẫn đang cười nói gì đó với mấy đứa trong xóm.

Tiếng cười vọng vào, lạc lõng.

"Cháu ăn đi, khoai nguội hết rồi kìa."

"Dạ."

"Bà hỏi thiệt nghen."

"Bà hỏi đi."

"Cháu qua đây hoài, bạn cháu nó có nói gì cháu không?"

"Không bà."

"Cháu nói dối bà."

"Bà sao biết?"

"Tại lúc nãy cháu đặt lu nước xuống mạnh lắm. Cháu bình thường đâu có đặt mạnh vậy."

Tôi cười.

"Bà tinh dữ."

"Bà già rồi bà chỉ còn cái tinh thôi. Nó nói gì?"

"Nó nói cháu lo cho bà thì được cái gì."

"Ừ. Rồi cháu trả lời sao?"

"Cháu chưa trả lời."

"Vậy giờ cháu trả lời bà nghe coi. Cháu được cái gì?"

Tôi nhìn xuống vỏ khoai trong lòng bàn tay, không nghĩ ra được câu nào cho gọn.

"Cháu không biết bà à."

"Không biết mà cháu vẫn làm."

"Dạ."

"Vậy là cháu dại."

"Bà cũng nói cháu dại nữa hả bà?"

"Ừ. Nhưng bà thích cái dại đó."

Cái quạt quay tới góc lệch lại kêu một tiếng cạch, rồi quay tiếp.

"Còn cháu, cháu ở đâu tới?"

"Cháu ở ngoài Trung ạ. Nhà cháu làm ruộng."

"Xa dữ vậy. Sao không ở gần nhà mà học?"

"Trường cháu ở đây bà. Cháu học năm hai, ngành xây dựng."

"Xây dựng. Vậy sau này cháu xây nhà hả?"

"Dạ chắc vậy."

"Vậy mai mốt cháu xây cho bà cái nhà nghen. Bà giỡn đó."

"Bà giỡn mà cháu làm thiệt đó bà."

Bà cười.

Lần này cười thật.

Cười xong bà đổi thế ngồi, dựa lưng vô vách ván, hai tay ôm gối.

"Bà ngoại cháu cũng hay ngồi kiểu này. Bó gối, dựa vô vách."

"Bà ngoại cháu còn không?"

"Dạ mất rồi. Năm cháu học lớp mười một."

"Vậy hèn gì."

"Hèn gì cái gì bà?"

"Hèn gì cháu cứ qua đây hoài. Cháu đâu có thương bà. Cháu nhớ bà ngoại cháu thôi."

Tôi bật cười, mà mắt thì cay.

"Bà nói vậy cháu giận đó."

"Ừ thì bà nói bậy. Bà xin lỗi."

"Bà đừng có xin lỗi cháu. Bà mà xin lỗi cháu một tiếng nữa là cháu không qua đây nữa."

"Vậy thôi bà không xin nữa."

Tối đó tôi về phòng, thằng Khoa còn ngồi ngoài thềm.

Đèn đường vàng hắt qua hàng rào, đổ bóng nó dài ra tới cửa phòng bà.

"Ăn khoai của bả rồi hả?"

"Ừ."

"Mày biết một củ khoai đó bao nhiêu tiền không? Hai ngàn. Mày xách nước ba tháng lấy công hai ngàn."

Tôi dừng lại ngay bậc thềm, tay còn cầm chìa khóa phòng.

"Khoa."

"Gì."

"Mày có bà ngoại không?"

Nó khựng một chút.

Cái điếu thuốc trên tay nó cháy thêm một đoạn mà nó quên rít.

"Có. Rồi sao?"

"Bà ngoại mày còn sống hả?"

"Còn. Ở dưới quê."

"Vậy mày về thăm bà đi. Đừng ngồi đây đếm khoai của người khác."

Nó không nói gì nữa.

Nhưng tôi nhớ ánh mắt nó đêm đó — không phải ánh mắt của một đứa bị nói trúng.

Là ánh mắt của một đứa vừa ghi nhớ một món nợ.

Ba hôm sau, tôi thấy nó đứng nói chuyện với ông Tám chủ trọ ngay trước cửa phòng bà Bảy.

Nói rất lâu.

Và cứ chỉ tay vào cái cửa đó.

"Bà Bảy, tháng này bà thiếu tôi hai tháng rồi đó nghen."

"Dạ tôi biết. Tôi xin ông Tám khất tới cuối tháng."

"Cuối tháng nào? Tháng trước bà cũng nói cuối tháng."

Tôi vừa đi học về, còn đeo cặp trên vai, thấy ông Tám chủ trọ đứng chống nạnh trước cửa phòng bà.

Thằng Khoa đứng cách đó ba bước, tay khoanh trước ngực.

"Chuyện gì vậy ông Tám?"

"Chuyện tiền phòng chứ chuyện gì. Cậu là ai mà xen vô?"

"Cháu ở phòng bên."

"Vậy thì cậu lo phòng cậu đi."

"Bà thiếu bao nhiêu ông?"

"Một triệu hai."

"Cháu trả."

"Đừng cháu!" Bà Bảy nắm tay tôi. "Đừng có trả. Tiền của cháu để cháu đóng học."

Bàn tay bà bấu vào cổ tay tôi, mấy đầu ngón lạnh ngắt.

"Bà để cháu."

"Khoan đã." Thằng Khoa bước tới. "Ông Tám, ông cho tôi nói một câu."

"Nói đi."

"Cái phòng này ông cho thuê được một triệu tám. Bà cụ ở trả có tám trăm, mà tám trăm cũng không trả nổi. Ông tính giùm tôi coi ông lỗ bao nhiêu một năm."

Ông Tám gãi cổ.

"Thì tại tôi thấy bà già tội."

"Tội thì ai chả tội. Nhưng ông chạy chợ hay ông làm từ thiện?"

"Khoa." Tôi quay qua nó. "Mày im giùm tao."

"Tao nói sai chỗ nào? Tao nói phòng của ông Tám thì ông Tám có quyền."

"Có quyền không có nghĩa là phải làm."

"Ê, mà tao mới nghĩ ra chuyện này nghen." Nó nhìn ông Tám. "Ông có biết bà cụ này giấu tiền trong phòng không?"

Bà Bảy quay phắt lại.

Cái ghế đẩu kêu một tiếng rít trên nền xi măng.

"Cậu nói gì?"

"Con thấy bà cất tiền trong cái hũ trong góc tủ. Con đi ngang cửa con thấy hoài."

"Đó là tiền của tôi."

"Tiền của bà thì bà trả tiền phòng đi. Bà giấu tiền mà bà kêu bà nghèo, vậy là bà gạt ông Tám ba năm nay."

Mặt ông Tám đổi.

"Bà Bảy, có chuyện đó thiệt hả?"

"Ông Tám..."

"Bà có tiền mà bà khất tôi hai tháng?"

"Ông Tám, bà để dành cái đó có việc riêng." Tôi bước lên, đứng chắn giữa ông với bà. "Cháu trả tiền phòng cho bà. Một triệu hai. Ngay bây giờ. Ông chờ cháu năm phút."

"Nam, đừng."

"Bà ngồi im đó đi bà."

Tôi vào phòng, lấy hết tiền làm thêm tháng đó, đưa ông Tám.

Ông Tám cầm, đếm, rồi ngó bà Bảy một cái rất khó chịu.

"Lần sau bà đừng có nói bà không có nghen."

Ông đi rồi, thằng Khoa còn nán lại.

"Mày giỏi. Trả tiền phòng cho người dưng."

"Mày vui chưa?"

"Vui gì?"

"Mày đứng đây từ nãy tới giờ chỉ để chờ cái mặt tao méo chứ gì."

"Tao chỉ nói sự thật."

"Sự thật nào? Mày rình phòng bà cụ tám mươi tuổi rồi đi mách chủ trọ, mày gọi đó là sự thật?"

"Tao gọi đó là sòng phẳng."

"Mày cút đi Khoa."

Nó cười, rồi đi.

Tiếng dép lê của nó kéo lệt xệt trên nền xi măng, xa dần.

Bà Bảy ngồi bệt xuống thềm, tay run.

"Bà xin lỗi cháu."

"Bà lại xin lỗi nữa rồi."

"Một triệu hai của cháu."

"Một triệu hai thôi mà bà. Cháu đi phụ quán, tháng sau có lại."

"Cháu ngồi xuống đây."

Tôi ngồi xuống.

"Cháu muốn hỏi bà cái hũ đó phải không."

"Dạ. Cháu tò mò lâu rồi. Bà ăn thì bà ăn cơm với nước mắm, quần áo bà vá ba lớp, mà bà cứ bỏ tiền vô cái hũ đó."

"Ừ."

"Bà để dành lo hậu sự hả bà?"

"Không."

"Vậy để dành làm gì bà?"

"Để dành cho một việc. Sau này cháu biết."

"Bà lúc nào cũng nói vậy."

"Tại vì nói ra bây giờ thì mất hay."

"Bà giấu cháu."

"Bà không giấu. Bà chỉ chưa nói."

"Khác gì nhau đâu bà."

"Khác chứ. Giấu là không định nói. Còn bà thì định nói. Chỉ là chưa tới lúc."

Chủ nhật tuần đó, xóm trọ làm giỗ ông Tư đầu hẻm.

Bày bốn cái bàn ngoài sân, ai cũng qua.

Mùi thịt kho với khói nhang bay khắp hẻm từ sáng.

"Bà Bảy có qua ăn không bà?"

"Thôi cháu, bà ngại."

"Ngại gì bà. Người ta mời cả xóm mà."

"Bà mặc đồ này qua đó người ta cười."

Bà đưa tay vuốt vạt áo bà ba đã bạc thành màu nước dưa.

"Bà mặc đồ nào cũng được. Cháu dắt bà qua."

Tôi dắt bà qua.

Vừa ngồi xuống bàn thì thằng Khoa từ bàn bên rót ly rượu, đứng dậy, nói lớn cho cả sân nghe.

"Cả xóm ơi, hôm nay có bà Bảy qua nè. Mọi người mừng chưa?"

Có mấy tiếng cười khan.

Rồi tắt.

"Cậu Khoa uống ít thôi." Bà bán bún nói.

"Con có uống gì đâu cô. Con chỉ mừng thôi. Cả xóm này ai cũng góp tiền đám giỗ, riêng bà Bảy không góp mà bà vẫn ngồi mâm trên. Vậy mới quý."

Tôi đứng dậy, ghế đổ ra sau.

"Khoa."

"Ê Nam, mày ngồi xuống đi. Tao khen chứ tao có chửi đâu."

"Mày khen kiểu đó là gì?"

"Là tao nói sự thật. Bà không góp thiệt mà. Đúng không bà?"

Bà Bảy đặt đũa xuống.

Bà đặt rất nhẹ, ngay ngắn trên miệng chén.

"Đúng. Tôi không góp."

"Đó, bà nhận rồi nghen."

"Tôi không có tiền góp. Nhưng hồi ông Tư còn sống, ổng bệnh nằm một chỗ hai tháng, tôi qua nấu cháo cho ổng bốn chục ngày. Cậu hỏi bà Tư coi tôi có nói dối không."

Bà Tư ngồi đầu bàn ngẩng lên.

Đũa trên tay bà dừng giữa chừng.

"Có. Bà Bảy nấu cháo cho ổng thiệt. Ngày nào cũng nấu."

Cả sân im.

Chỉ còn tiếng quạt máy quay ù ù ở góc.

Thằng Khoa cầm ly rượu, không biết để đâu.

"Vậy thì... thì con xin lỗi bà."

"Không sao đâu cậu. Cậu ngồi xuống ăn đi."

Bà nói câu đó nhẹ như không.

Nhưng tôi thấy tay bà run dưới gầm bàn suốt bữa.

Ăn được nửa chén cơm bà kéo áo tôi.

"Cháu ơi dắt bà về."

"Bà mới ăn có nhiêu đó."

"Bà no rồi."

Về tới phòng bà mới ngồi xuống chiếu, thở dài một hơi rất dài.

"Bà không nên qua đó."

"Bà không có lỗi gì hết bà."

"Bà biết. Nhưng người già mà bị nói giữa đám đông thì nhục lắm cháu. Cháu chưa già cháu không biết."

"Cháu xin lỗi bà. Tại cháu dắt bà qua."

"Cháu lại xin lỗi rồi. Ai dạy cháu vậy?"

"Bà chứ ai."

Bà cười.

Nhưng đêm đó tôi nghe bên phòng bà tiếng ho tới gần sáng.

Vách ván mỏng, tiếng ho nghe rõ như bà nằm ngay bên cạnh.

Tối đó tôi nằm nghĩ mãi.

Tôi cứ tưởng bà để dành lo cái quan tài, cái mộ.

Người già hay lo cái đó.

Ba tuần sau, nhà tôi ở quê có chuyện.

Mẹ gọi lúc chín giờ tối, giọng bình thường quá mức bình thường.

"Alô, mẹ hả mẹ? Bố sao rồi mẹ?"

"Bố con nằm viện tuyến tỉnh rồi con. Thận."

"Nặng không mẹ?"

"Bác sĩ nói phải chạy. Mỗi tuần ba lần."

"Tiền đâu mẹ?"

"Mẹ bán lúa rồi. Còn thiếu."

Tôi nghe bên kia có tiếng xe đẩy chạy qua hành lang bệnh viện.

"Vậy học phí kỳ cuối của con..."

"Con ơi..."

"Dạ con hiểu rồi. Mẹ đừng lo. Con tự lo được."

Tôi cúp máy, ngồi ngoài hẻm tới mười một giờ đêm.

Bảy triệu hai.

Học kỳ cuối.

Tôi tính tới tính lui, cách nào cũng thiếu bốn triệu.

Ba hôm sau bà Bảy gọi tôi qua.

"Cháu bị gì mấy bữa nay?"

"Dạ không có gì."

"Cháu ăn có hai chén cơm trong ba ngày. Bà đếm."

"Bà cũng đếm nữa hả bà."

"Nói bà nghe đi."

Tôi ngồi xuống, nhìn cái nền chiếu chỗ sờn thay vì nhìn bà.

"Bố cháu bệnh. Cháu chắc phải bảo lưu một kỳ, đi làm rồi học tiếp."

Bà im rất lâu.

Rồi bà nắm tay tôi, bàn tay gầy như cành củi.

"Cháu đừng bỏ học."

"Cháu bảo lưu thôi bà, không phải bỏ."

"Bà biết mấy đứa bảo lưu rồi. Bà thấy ba đứa trong cái xóm này bảo lưu rồi. Không có đứa nào quay lại hết."

"Cháu khác."

"Đứa nào cũng nói nó khác."

Hai hôm sau bà gọi tôi qua lần nữa.

Trên chiếu có cái gói bọc khăn.

Cái khăn mặt cũ, xếp vuông vắn, đặt chính giữa như người ta bày mâm cúng.

"Cầm đi."

"Cái gì vậy bà?"

"Mở ra coi."

Tôi mở.

Bên trong là tiền lẻ.

Hai ngàn, năm ngàn, mười ngàn, hai chục ngàn.

Tờ nào tờ nấy nhàu, sờn, cuộn lại từng cuộn buộc dây thun.

Mùi tiền cũ trộn mùi vải ẩm xộc lên.

"Bà..."

"Ba triệu hai. Bà đếm ba lần rồi."

"Cháu không lấy đâu."

"Cầm đi."

"Bà ơi đây là tiền bà để dành cả đời."

"Không phải cả đời. Ba năm thôi."

"Bà lấy cái này lo cho bà đi."

"Bà già rồi, sống nay chết mai, cần tiền chi nhiều."

"Vậy còn cái việc bà nói đó? Cái việc bà để dành đó?"

Bà nhìn tôi rất lâu.

Cái quạt trần trên đầu quay lạch cạch, thổi mấy sợi tóc bạc của bà bay lòa xòa.

"Thì đây. Đây là cái việc đó."

Tôi ngẩng lên.

"Bà nói thiệt hả bà?"

"Bà để dành phòng khi cháu cần. Từ cái năm cháu xách nước cho bà tháng thứ hai, bà đã bắt đầu để dành rồi."

"Sao bà..."

"Tại bà nghĩ vầy. Bà không có gì cho cháu hết. Bà không có nhà, không có vàng, không có con để nhờ. Bà chỉ có mỗi tháng chín trăm bạc trợ cấp. Bà bớt ăn một chút, bà bỏ vô hũ một chút."

"Bà bớt ăn."

"Ừ."

"Bà bớt ăn ba năm để dành cho cháu."

"Cháu đừng có khóc."

"Cháu không khóc."

"Cháu đang khóc kìa."

Tôi đẩy cái gói lại.

Đẩy tới giữa chiếu rồi rụt tay về.

"Cháu lấy một triệu thôi. Còn lại bà giữ."

"Cầm hết đi."

"Cháu lấy một triệu. Bà mà ép cháu, cháu không cầm đồng nào hết."

"Cái thằng này lì y như thằng Tân."

Cuối cùng tôi cầm một triệu.

Phần còn lại tôi gói lại, bỏ vô cái hũ sành cho bà, đậy nắp, để lại góc tủ.

Cái nắp sành đặt xuống kêu một tiếng cạch khô khốc.

Bốn triệu còn thiếu, tôi đi bưng bê quán nhậu tới hai giờ sáng, ba tháng thì đủ.

Tôi tự nhủ, ra trường đi làm, việc đầu tiên là đón bà về ở chỗ đàng hoàng, coi bà như bà ngoại ruột.

Tôi không kịp làm điều đó.

Vì tuần sau, thằng Khoa lại đứng trước cửa phòng bà.

Lần này nó cầm theo một tờ giấy.

"Bà Bảy, bà đọc cái này đi."

"Tôi không biết chữ nhiều."

"Vậy để tôi đọc cho bà nghe. Thông báo. Kể từ ngày mùng một tháng sau, phòng số bốn thu hồi để sửa chữa. Người thuê vui lòng dọn ra trước ngày ba mươi."

"Ai ký cái đó?"

"Ông Tám chủ trọ. Có chữ ký với số điện thoại đàng hoàng."

Tôi vừa dựng xe đạp thì nghe.

Tôi bỏ cặp xuống đất, đi tới.

"Đưa tao coi."

"Mày là ai mà coi?"

"Đưa."

Tôi giật tờ giấy.

Chữ ông Tám thật.

"Ông Tám đâu?"

"Ông đi đám cưới. Ông nhờ tao đưa."

"Nhờ mày? Hay mày xin ông cho mày đưa?"

Nó cười.

"Có khác gì đâu."

"Khác nhiều lắm Khoa. Mày đi xúi ổng đúng không?"

"Tao góp ý thôi. Tao nói ông Tám, phòng đó ba năm nay ông thu được nhiêu? Ông nói tám trăm mà thiếu hoài. Tao nói vậy ông cho tao thuê, tao trả ông một triệu tám, trả đủ, trả trước ba tháng."

"Mày định thuê phòng bà?"

"Tao thuê đàng hoàng. Tao có tiền tao thuê. Sai chỗ nào?"

"Bà tám mươi tư tuổi Khoa. Bà ở đây hai mươi mấy năm."

"Ở lâu không phải là quyền. Ở lâu mà trả tiền mới là quyền."

"Mày biết bà đi đâu không?"

"Đó là chuyện của bả."

"Bà không có ai hết. Mày biết mà."

"Ừ tao biết. Rồi sao? Tao có bổn phận gì với bả không? Mày mới là đứa nhận bổn phận đó, tự nguyện, không ai bắt."

Bà Bảy ngồi im trên thềm suốt nãy giờ, hai tay đặt lên đầu gối.

Lúc này bà mới lên tiếng.

"Cậu Khoa."

"Dạ."

"Cậu cho tôi hỏi một câu thôi."

"Bà hỏi đi."

"Tôi có làm gì cậu không?"

Nó khựng lại.

"Bà không làm gì tôi hết."

"Vậy sao cậu ghét tôi dữ vậy?"

"Tôi không ghét bà."

"Vậy cậu ghét ai?"

Nó không trả lời.

Nó nhìn tôi.

"Con nói thiệt với bà nghen. Con không có gì với bà hết. Con chỉ thấy chướng."

"Chướng cái gì cậu?"

"Chướng cái cảnh thằng Nam nó bỏ học đi làm bưng bê tới hai giờ sáng, rồi lấy tiền đó trả tiền phòng cho bà. Con thấy chướng."

Tôi đứng sững.

"Mày nói cái gì?"

"Tao nói mày đang tự đào lỗ chôn mày. Nhà mày ở quê bố mày chạy thận, mày còn thiếu học phí, mà mày đi trả một triệu hai tiền phòng cho người dưng. Mày nghĩ mày thánh thiện lắm hả?"

"Chuyện của tao."

"Ừ chuyện của mày. Nhưng mai mốt mày rớt tốt nghiệp, mày về quê, thì bả có trả lại mày được đồng nào không?"

"Không cần."

"Không cần. Hay là mày đang đợi?"

"Đợi cái gì?"

"Đợi cái hũ đó chứ đợi gì. Tao biết mày mà Nam. Mày thấy cái hũ rồi. Ai mà không tính."

Tôi bước tới.

Bà Bảy nắm áo tôi kéo lại.

Bà kéo mạnh hơn tôi tưởng một bà cụ tám mươi tư có thể kéo.

"Thôi cháu. Thôi."

"Bà buông ra."

"Cháu đánh nó thì cháu bị đuổi học. Cháu ngồi xuống."

Tôi ngồi xuống.

Nắm tay tôi vẫn siết, mấy móng tay ấn vào lòng bàn tay.

Thằng Khoa lùi hai bước, vẫn cười.

"Đó. Bà cụ khôn hơn mày."

"Cậu Khoa."

"Dạ bà."

"Cậu nói tôi giấu tiền. Cậu nói thằng nhỏ này lo cho tôi vì cái hũ."

"Con nói vậy đó."

"Ừ. Vậy tôi hứa với cậu một câu."

"Bà hứa gì?"

"Chừng nào tôi chết, cậu tới đây coi cái hũ đó có cái gì. Cậu tới coi tận mắt."

"Bà nói vậy nghen."

"Tôi nói vậy đó. Có bà con lối xóm nghe hết rồi."

"Được. Con nhớ."

Nó quay đi được mấy bước rồi dừng lại.

"Mà tao nói cho mày biết một chuyện nghen Nam."

"Chuyện gì."

"Bà ngoại tao chết năm ngoái."

Tôi ngẩng lên.

"Sao mày không nói?"

"Nói làm gì. Bả chết một mình trong nhà. Ba ngày sau hàng xóm mới biết."

Nó nói câu đó bằng giọng đều đều, như đọc lại một cái tin trên báo.

"Khoa..."

"Tao ở trên này. Tao có về được đâu. Tao còn nợ tiền học."

"Vậy thì mày càng phải hiểu bà Bảy chứ."

"Hiểu cái gì? Tao hiểu quá đi chứ. Tao hiểu là bả cũng sẽ chết một mình y như bà ngoại tao. Mày xách nước ba năm cũng vậy thôi. Mày đổi được cái gì?"

"Ít nhất bà không chết một mình."

"Rồi sao nữa? Mày định xách nước tới năm mấy tuổi? Mày định ở cái xóm này cả đời hả?"

"Tao không biết."

"Đó. Mày không biết. Còn tao thì tao biết. Tao biết cái thứ tình cảm đó nó không nuôi nổi ai hết."

Nó đi.

Tiếng dép nó khuất sau khúc cua hẻm rồi mới hết.

Tôi quay qua bà.

"Bà hứa với nó chi vậy bà?"

"Tại bà mệt rồi cháu. Bà không muốn cãi nữa."

"Còn cái phòng?"

"Bà đi được mà. Bà ra chùa Phổ Quang, người ta cho ở tạm."

"Bà không đi đâu hết. Cháu qua nói chuyện với ông Tám."

Tôi qua nói chuyện với ông Tám ba lần.

Hai lần đầu ông không mở cổng.

Lần thứ ba tôi ký giấy đứng ra trả tiền phòng cho bà, một triệu tám một tháng, bằng đúng giá thằng Khoa trả.

Tôi nhận thêm ca đêm ở kho hàng.

Bà biết.

Bà không nói gì, chỉ tối nào cũng để phần cơm.

"Cháu ăn đi."

"Dạ."

"Cháu đi làm mấy giờ về?"

"Dạ hai giờ."

"Hai giờ sáng?"

"Dạ."

"Rồi mấy giờ cháu đi học?"

"Sáu giờ rưỡi."

Bà đặt chén xuống.

"Vậy cháu ngủ mấy tiếng?"

"Cháu ngủ bù trên xe buýt bà."

"Bà tính rồi. Bà chết là hết tốn."

Tôi buông đũa xuống chiếu.

"Bà nói câu đó lần nữa là cháu dọn ra thiệt đó."

"Ừ thôi bà không nói."

"Bà ăn đi bà, cơm nguội rồi."

"Cháu à."

"Dạ."

"Cháu có bao giờ hỏi bà tại sao bà thương cháu không?"

"Cháu đâu dám hỏi."

"Không phải tại cháu xách nước đâu."

"Vậy tại gì bà?"

"Tại cái đêm đầu tiên cháu dọn tới. Cháu nhớ không?"

"Dạ cháu nhớ. Bà bưng khoai qua."

"Bà bưng khoai qua tại bà nghe cháu khóc."

Tôi ngừng đũa.

"Cháu có khóc đâu bà."

"Vách nó mỏng lắm cháu. Bà nghe cháu gọi điện về cho má cháu. Cháu nói con khỏe, con ăn no, má đừng lo. Nói xong cháu cúp máy rồi cháu khóc."

"Bà..."

"Bà nghe xong bà nằm bà nghĩ, thằng Tân của bà hồi mới đi chắc cũng vậy. Chắc nó cũng gọi về nói con khỏe rồi nó khóc. Mà bà đâu có nghe được."

Bà quay mặt vô vách, lấy tay quẹt ngang mắt một cái rất nhanh.

"Bà đừng nghĩ nữa bà."

"Nên bà mới luộc khoai. Bà không luộc cho cháu đâu. Bà luộc cho nó."

"Bà nói vậy cháu chịu không nổi."

"Rồi luộc riết ba năm, bà quên mất nó, bà chỉ nhớ cháu."

Đêm hai mươi bảy tháng mười, mưa lớn.

Mưa từ bốn giờ chiều, con hẻm ngập tới bắp chân.

Tôi về lúc mười một giờ rưỡi, ướt sũng.

Đèn phòng bà còn sáng, cửa hé.

"Bà Bảy ơi, bà ngủ chưa bà?"

Không ai trả lời.

Chỉ có tiếng mưa gõ trên mái tôn.

"Bà Bảy?"

Tôi đẩy cửa.

Bà nằm co trên giường, thở khò khè, một bên mặt xệ xuống.

"Bà! Bà ơi!"

Tôi cõng bà chạy trong mưa ra đầu hẻm.

Bà nhẹ hều, nhẹ tới mức tôi sợ.

Nước tới đầu gối.

Tôi vẫy ba cái xe mới có một cái dừng.

"Bác ơi bệnh viện, bác chạy nhanh giùm con."

Bốn mươi phút sau, ở hành lang cấp cứu.

Đèn trắng, mùi cồn, tôi ngồi ướt nhẹp trên ghế inox.

"Người nhà bệnh nhân đâu?"

"Dạ con."

"Cậu là gì của bà?"

"Con là... con ở phòng bên."

"Không có người nhà hả?"

"Dạ không có."

"Bà bị tai biến. Tuổi cao, huyết áp cao, sốc nhiệt. Chúng tôi làm hết sức nhưng cậu chuẩn bị tinh thần."

"Chuẩn bị tinh thần là sao bác sĩ?"

"Là cậu nên gọi ai đó tới. Nếu có."

"Không có ai hết bác sĩ ơi."

Tôi ngồi cạnh giường bà tới bốn giờ sáng.

Tay bà lạnh, tôi cứ chà cho ấm rồi lại lạnh.

Gần sáng bà hé mắt.

"Bà! Bà tỉnh rồi hả bà?"

Môi bà mấp máy.

Tôi ghé sát tai vào.

"Cháu..."

"Dạ con nghe nè bà."

"Đừng buồn... bà đi thanh thản..."

"Bà đừng nói vậy."

"Cái hũ..."

"Dạ?"

"Cái hũ... bà để lại cho cháu... cháu nhớ lấy..."

"Dạ con nhớ. Bà đừng nói nữa, bà giữ sức."

Ngón tay bà cựa trong lòng bàn tay tôi, như đang cố nắm mà không nắm nổi.

"Còn... còn cái thằng đó..."

"Thằng nào bà?"

"Thằng Khoa..."

"Bà đừng nghĩ tới nó nữa."

"Cho nó... coi..."

"Bà nói gì con không nghe."

"Cho nó coi cái hũ... bà hứa với nó rồi..."

Đó là câu cuối cùng bà nói.

Bà Bảy mất lúc bốn giờ hai mươi sáng, thọ tám mươi tư tuổi.

Không con, không cháu ruột.

Chỉ có tôi cầm tay bà.

Đám tang bà làm ở nhà tang lễ ngoài phố, hai ngày.

Cả xóm trọ tới.

Ông Tám tới, đứng ngoài, không dám vào.

Đến ngày dọn phòng, bà con lối xóm gọi tôi.

Phòng đã dọn gần trống, chỉ còn cái tủ gỗ với tấm chiếu cuộn dựng ở góc.

"Nam ơi, ra đây. Có cái này của bà để lại cho con."

Trên cái tủ gỗ là cái hũ sành, nắp đậy kín, dán một mẩu giấy.

Nét chữ run run, nguệch ngoạc:

"Để lại cho thằng nhỏ phòng bên. Nhờ bà con đưa giùm."

Bên cạnh hũ là một lá thư gấp tư.

Tôi vừa cầm cái hũ lên thì nghe tiếng ngoài sân.

"Khoan đã. Cái hũ đó bà cụ hứa cho tôi coi. Trước mặt cả xóm. Mọi người có nghe không?"

"Cái hũ đó bà cụ hứa cho tôi coi. Trước mặt cả xóm. Mọi người có nghe không?"

"Có nghe."

"Bữa đó tui đứng ngay đây, tui nghe."

"Đó. Vậy mở ra đi."

Thằng Khoa bước vào sân, sau lưng nó là hai đứa cùng phòng.

Cả xóm trọ đứng vòng quanh, mười mấy người, có cả ông Tám chủ trọ.

"Mày muốn gì Khoa?"

"Tao muốn công bằng."

"Công bằng cái gì?"

"Bà cụ chết rồi. Tài sản để lại thì phải rõ ràng, không phải cứ đứa nào ở gần thì ôm."

"Bà để lại cho tao. Có chữ bà dán trên nắp đây."

Tôi xoay cái hũ, đưa mẩu giấy về phía nó.

"Chữ đó ai viết? Bà không biết chữ. Cả xóm biết bà không biết chữ."

Có tiếng xì xào.

"Bà biết viết chút ít."

"Chút ít là bao nhiêu? Mày dạy bà viết hả Nam?"

"Mày nói vậy là mày nói tao giả chữ bà?"

"Tao không nói. Tao chỉ hỏi."

"Khoa." Ông Tám gãi cổ. "Thôi cậu."

"Ông Tám, ông cũng có phần đó."

"Tôi có phần gì?"

"Bà cụ thiếu ông mấy tháng tiền phòng. Trong hũ đó có tiền, ông lấy lại phần ông trước đi, đúng luật."

Ông Tám im.

Nhưng ông không bỏ đi.

Ông lùi nửa bước, rồi đứng nguyên chỗ đó.

"Còn tao?" Thằng Khoa quay lại phía tôi. "Tao không đòi tiền. Tao chỉ muốn xóm này thấy một chuyện."

"Thấy chuyện gì?"

"Thấy là ba năm nay mày không tử tế miễn phí. Mày xách nước, mày trả tiền phòng, mày bỏ ca đêm — để chờ cái hũ này."

"Mày im đi."

"Sao im? Ai ở đây cũng nghĩ vậy hết, chỉ là không ai nói."

Tôi nhìn quanh.

Không ai nhìn lại tôi.

Có mấy người cúi xuống.

"Đó. Mày thấy chưa."

"Tao thấy rồi."

"Vậy mở ra."

"Mày muốn trong đó có gì Khoa?"

"Tao không muốn gì hết. Tao chỉ đoán."

"Đoán đi."

"Bà cụ đó ở cái phòng bốn mét vuông hai mươi mấy năm, ăn cơm với nước mắm, quần áo vá ba lớp. Tiền trợ cấp chín trăm một tháng, bả bỏ hũ ba năm. Chưa kể hồi trẻ bả đi ở đợ, đi bán vé số. Người già kiểu đó thường giấu vàng."

"Vàng."

"Ừ. Một hai chỉ. Bà già nào chả có một hai chỉ giấu trong nhà."

Có tiếng ai đó hùa theo nhỏ nhỏ trong đám đông.

"Rồi nếu có vàng thì sao?"

"Thì mày chia. Trả ông Tám tiền phòng, còn lại làm cái mộ cho bả cho đàng hoàng, chứ không phải bỏ túi."

"Còn mày lấy gì?"

"Tao không lấy gì hết. Tao chỉ muốn đứng đây coi."

"Mày muốn coi mặt tao."

"Ừ."

Tôi đặt cái hũ xuống giữa sân, trên cái ghế đẩu.

Tay tôi run, mà không phải run vì nó.

"Mọi người lại gần đi. Ai muốn coi thì lại gần."

Cả xóm xích vào.

Ông Tám cũng xích vào.

"Cháu đọc thư của bà trước."

"Đọc đi."

Tôi mở lá thư ra.

Nửa trên là chữ bà, nguệch ngoạc, sai chính tả.

Nửa dưới là chữ người khác, ngay hàng thẳng lối.

"Cháu ơi. Bà không biết chữ nhiều. Bà viết được nhiêu đây, phần sau bà nhờ cô giáo dạy chiều ở đầu hẻm viết giùm."

"Đó. Có người viết giùm." Thằng Khoa nói.

"Cô Hạnh dạy lớp tình thương đó. Cô còn ở đây, ai muốn gọi thì gọi."

"Ừ đọc tiếp đi."

"Bà cảm ơn cháu. Ba năm nay cháu xách nước, đi chợ, sửa điện, ngồi nghe bà kể chuyện thằng Tân tới mấy trăm lần mà không có lần nào cháu kêu chán. Cháu không phải con cháu ruột của bà. Mà cháu thương bà hơn ruột thịt."

Tôi ngừng một chút.

Chữ nhòe đi, tôi phải chớp mắt mấy cái mới đọc tiếp được.

"Đọc đi."

"Đời bà cô quạnh. Bà tưởng bà chết trong xó không ai hay, ba ngày sau người ta ngửi mùi mới biết. Nhờ có cháu, mấy năm cuối bà mới thấy ấm."

"Rồi tới đoạn tiền chưa?"

"Tới rồi. Bà không có gì cho cháu. Bà chỉ có cái hũ này, tiền lẻ bà để dành ba năm. Bà tính để dành cho cháu ăn học mà cháu không chịu lấy. Giờ bà đi rồi, cháu lấy hết cho bà, đừng chối nữa."

"Bao nhiêu?"

"Thư không nói bao nhiêu."

"Vậy mở ra."

"Còn một đoạn."

"Đoạn gì?"

"Với lại, dưới đáy hũ, còn một thứ nữa. Cháu coi."

Cả sân im.

Im tới mức nghe được tiếng cái quạt máy nhà ai đó chạy sau bức tường.

"Đó! Đó! Nghe chưa!" Thằng Khoa vỗ tay một cái. "Còn một thứ nữa. Tao nói rồi mà. Bà già nào cũng giấu vàng dưới đáy."

"Khoa."

"Mở đi Nam. Mở trước mặt mọi người. Đàng hoàng."

Tôi mở nắp hũ.

Cái nắp sành khô, xoay một vòng rồi mới bung ra.

Bên trong đầy tiền lẻ.

Hai ngàn, năm ngàn, mười ngàn.

Cuộn từng cuộn nhỏ, buộc dây thun, xếp đứng ngay ngắn như người ta xếp thuốc trong tiệm.

"Đếm đi."

Tôi đổ ra ghế.

Cả xóm cùng đếm.

Đếm mất mười lăm phút.

"Bốn triệu một trăm tám chục ngàn."

"Bốn triệu. Ba năm được bốn triệu." Có bà cụ bán bún đứng gần nói. "Trời ơi bà Bảy."

"Còn dưới đáy." Thằng Khoa chen lên. "Còn dưới đáy nữa. Lấy ra coi."

Tôi thò tay vào đáy hũ.

Có một cái gói.

Cứng, nhỏ, bằng nắm tay, bọc trong mảnh vải trắng, buộc bằng sợi chỉ đỏ.

"Đó! Đó đó!"

"Nặng không Nam?"

"Nhẹ."

"Nhẹ sao được. Mở ra."

Tôi tháo sợi chỉ đỏ.

Nút thắt chặt, tôi phải gỡ hai lần.

Mảnh vải bung ra.

Bên trong không phải vàng.

Là một nắm gạo.

Cả sân không ai nói gì.

Có người nhón chân nhìn cho rõ.

Thằng Khoa bước tới, cúi xuống nhìn, rồi ngẩng lên.

Mặt nó tái đi.

"Gạo?"

"Ừ."

"Còn gì nữa không? Coi kỹ trong lớp vải coi."

Tôi giũ mảnh vải trước mặt cả xóm.

Không rơi ra thứ gì.

"Hết rồi Khoa. Chỉ có một nắm gạo."

"Bà cụ đó giấu một nắm gạo dưới đáy hũ tiền để làm gì?"

Tôi cầm lá thư lên, đọc tiếp phần chữ của cô Hạnh, đọc chậm, đọc lớn cho cả sân nghe.

"Cháu thấy nắm gạo đó không. Hồi bà còn nhỏ, năm đói, nhà bà hết sạch. Mẹ bà giấu một nắm gạo dưới đáy hũ, đói mấy cũng không đụng tới. Bà hỏi mẹ để chi. Mẹ bà nói: để mình biết mình chưa cùng đường."

Có tiếng ai đó hít vào.

"Bà giữ cái nếp đó cả đời. Hồi ông mất, bà còn nắm gạo đó. Hồi thằng Tân đi biệt, bà cũng còn nắm gạo đó. Bà đói mấy bà cũng không đụng tới, tại đụng vô là hết đường lui."

"Đọc tiếp đi con." Bà bán bún nói.

"Giờ bà cho cháu. Không phải để cháu ăn. Để cháu nhớ: đời cháu rồi sẽ có lúc tưởng cùng đường. Chừng nào còn một nắm gạo là còn sống được. Cháu ráng học, ráng tử tế như bây giờ. Vậy là bà vui rồi. Bà thương cháu. Bà Bảy."

Tôi gấp lá thư lại.

Gấp đúng theo nếp cũ, bốn nếp.

"Hết rồi."

Không ai nói gì.

Ông Tám quay mặt đi.

Tôi cầm nắm gạo lên, đưa về phía thằng Khoa.

Mấy hạt gạo rơi xuống nền xi măng, lăn đi mấy vòng.

"Khoa."

"Gì."

"Mày nói bà giấu vàng dưới đáy. Đây, mày coi kỹ đi."

Nó không đưa tay ra.

Hai tay nó thõng xuống, mấy ngón siết lại rồi buông ra.

"Cầm đi. Mày đòi coi mà."

"Thôi."

"Cầm."

"Tao nói thôi rồi."

"Ba năm bà bớt ăn để được bốn triệu một tám. Còn dưới đáy, thứ bà giấu kỹ nhất, thứ bà không đụng tới cả cái năm đói — bà để lại cho tao. Mày biết bà tính bà cho tao cái gì không Khoa?"

Nó không trả lời.

"Bà cho tao cái thứ mà chính bà cũng không dám ăn."

"Nam."

"Gì."

"Tao..."

"Mày nói đi."

"Tao tưởng trong đó có vàng."

"Tao biết mày tưởng vậy."

"Nếu trong đó có vàng thì tao đúng."

"Ừ."

"Còn giờ trong đó có gạo thì tao là cái gì?"

Tôi không trả lời.

"Mày nói đi Nam. Tao là cái gì?"

"Mày là đứa có bà ngoại chết một mình mà không dám về."

Nó đứng im.

Mấy người trong sân quay đi hết.

Không ai bỏ về, nhưng cũng không ai nhìn nó.

"Tao không cố ý nói câu đó."

"Mày nói rồi."

"Ừ tao nói rồi."

Thằng Khoa đứng đó chừng năm giây.

Rồi nó quay lưng, đi ra cổng.

Đi được mười bước nó dừng lại, nhưng không quay đầu.

"Tao xin lỗi bà cụ."

"Mày nói với ai?"

"Tao không biết nữa."

Rồi nó đi.

Sau bữa đó không ai trong xóm nhắc lại chuyện cái hũ.

Ông Tám qua đưa tôi phong bì, nói ông trả lại tiền phòng ba tháng tôi đóng giùm bà.

Tôi không nhận.

Ông để trên bàn rồi đi về, đi rất nhanh, không quay lại.

Bốn triệu một trăm tám chục ngàn của bà, tôi không tiêu một đồng.

Tôi bù thêm tiền làm thêm, xây cho bà cái mộ có mái, ốp đá, khắc tên: Nguyễn Thị Bảy, 1942 – 2026.

Bên dưới tôi khắc thêm một dòng: "Bà của thằng nhỏ phòng bên."

Mười hai năm rồi.

Tôi ra trường, đi làm công trình, có vợ, có hai đứa con.

Có năm tôi thất nghiệp bảy tháng, vợ chồng cãi nhau, tôi ngồi ngoài ban công lúc hai giờ sáng nghĩ bậy bạ.

Đêm đó tôi vào lấy cái gói vải trắng ra, tháo sợi chỉ đỏ, đổ nắm gạo ra lòng bàn tay đếm.

Đếm được ba trăm mấy chục hạt.

Đếm xong tôi gói lại, buộc chỉ, đi ngủ.

Sáng hôm sau tôi đi xin việc tiếp.

Con gái tôi năm nay tám tuổi.

Có lần nó chỉ cái hũ sành trên kệ, cái hũ tôi lau bụi mỗi tuần một lần.

"Bố ơi trong đó có gì?"

"Có gạo."

"Gạo để làm gì hả bố?"

"Để bố biết bố chưa cùng đường."

"Con không hiểu."

"Ừ. Chừng nào con lớn con hiểu."

Nó nhón chân, sờ cái hũ một cái rồi rụt tay lại.

"Ai cho bố vậy?"

"Bà."

"Bà nội hay bà ngoại?"

Tôi nghĩ một lúc.

"Bà hàng xóm. Mà là bà của bố."

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp