
TRỌN BỘ I Sáu Năm Tôi Gửi Tiền Từ Nhật Về, Ngày Về Sổ Đỏ Lại Mang Tên Em Trai
Tôi về tới đầu ngõ lúc gần bốn giờ chiều ngày hai mươi tháng Chạp.
Cái vali của tôi bung mất một bánh ở sân bay, nên suốt đoạn đường từ chỗ xe khách thả xuống tới nhà, nó kêu rẹt rẹt trên bê tông.
Trẻ con trong xóm chạy ra nhìn.
Có đứa hỏi chú ở đâu về.
Tôi nói chú ở Nhật về.
Nó gật gù rồi chạy đi.
Sáu năm.
Tôi đi khi hai mươi tám, về khi ba mươi tư.
Ngõ nhà tôi ngày xưa là đất, mưa xuống là lầy tới mắt cá.
Giờ đổ bê tông phẳng lì.
Rồi tôi thấy cái nhà.
Hai tầng.
Tường sơn vàng kem.
Cổng sắt sơn xanh, có hoa văn.
Sân lát gạch đỏ.
Trước sân có cái xe máy tay ga màu trắng dựng dưới mái tôn.
Tôi đứng lại ở ngoài cổng đến mấy phút.
Tôi không vào ngay được.
Sáu năm trước, chỗ này là cái nhà cấp bốn mái ngói vỡ, mưa to thì mẹ tôi phải kê ba cái chậu dưới nền.
Có lần gọi điện về, tôi nghe tiếng nước nhỏ tong tong vào chậu nhôm ở đầu dây bên kia, tôi tắt máy rồi ra ban công ký túc xá đứng một lúc lâu.
Giờ thì hết rồi.
Tôi dựng được nó.
Tôi đứng ngoài cổng nhà mình mà hai chân cứ nặng.
Tôi bấm máy gọi cho Hoàng.
Điện thoại đổ chuông trong túi, rồi tắt.
Tôi gọi cho mẹ.
Máy mẹ tôi tò tí te — cái máy nút bấm, sáu năm rồi vẫn cái máy đó, tôi bảo đổi mà bà không chịu, bà nói bấm quen rồi.
Tôi đẩy cổng.
Không khoá.
Trong sân có mùi thịt kho.
Có tiếng ti vi.
Một đứa bé chừng bốn tuổi chạy ra nhìn tôi, rồi chạy tọt vào trong kêu "mẹ ơi có người".
Con Thắm, vợ Hoàng, ra trước.
Nó nhìn tôi từ đầu tới chân, rồi à một tiếng.
"Anh Hưng. Về rồi à. Sao không gọi trước."
"Anh có gọi. Không ai nghe."
"Ừ, nhà đang bận."
Nó không mời tôi vào.
Nó đứng ở bậc thềm, tay vẫn cầm cái khăn lau.
Tôi hỏi mẹ đâu.
Nó hất cằm ra sau nhà.
"Mẹ ở gian ngang."
Tôi kéo vali đi vòng ra sau.
Gian ngang là cái chái lợp tôn, tường xây một mét rồi thưng tôn lên tới mái.
Trong đó để xe máy cũ, mấy bao thóc, cái tủ lạnh hỏng, và một cái phản gỗ kê sát vách.
Mẹ tôi ngồi trên cái phản đó, đang nhặt rau.
Bà ngẩng lên.
Cái rổ rau trên đùi bà nghiêng đi, rơi mấy cọng xuống nền xi măng.
Bà không nhặt.
Bà gọi tên tôi một tiếng.
Chỉ một tiếng, rất nhỏ, kiểu người ta gọi để chắc chắn là mình không nhìn nhầm.
Tôi bỏ vali xuống.
Tôi ngồi thụp xuống cạnh cái phản.
Mẹ tôi nhỏ đi nhiều.
Sáu năm, qua màn hình điện thoại, tôi không thấy được cái đó.
Qua màn hình thì mẹ vẫn là mẹ.
Ngồi gần rồi mới thấy vai bà tóp lại, cổ tay bà chỉ còn bằng cái cán chổi.
Bà đưa tay sờ lên mặt tôi.
Tay bà ram ráp.
"Đen quá. Gầy quá."
"Con làm ngoài trời mà mẹ."
"Ăn gì chưa."
"Chưa."
Bà định đứng dậy.
Tôi giữ bà lại.
Bà cứ nhấp nhổm, kiểu người có khách mà chưa rót được nước thì không ngồi yên được.
Mà tôi có phải khách đâu.
Tôi hỏi sao mẹ lại ở đây.
Bà nói: "Ở đây cho mát con."
Tháng Chạp.
Ngoài kia gió biển thổi ù ù.
Mái tôn kêu rào rào từng đợt.
Tôi không hỏi nữa.
Tối đó cả nhà ăn cơm ở nhà trên.
Mâm dọn dưới nền phòng khách, có bát thịt kho, đĩa rau luộc, bát canh cá.
Hoàng về lúc gần bảy giờ.
Nó dựng xe, cởi cái áo khoác gió, rồi mới thấy tôi.
"Ơ, anh."
Nó cười.
Nó ôm vai tôi, đập đập lưng tôi mấy cái.
Em tôi béo ra.
Ngày tôi đi nó gầy, đi làm phụ hồ, tay chân đen nhẻm.
Giờ nó trắng hơn, bụng có một chút, tóc vuốt keo.
"Anh về sao không báo, em ra bến đón."
"Anh gọi mà."
"Ờ, dạo này em bận, điện thoại để im."
Bữa cơm đó vui.
Tôi nói thật, nó vui.
Hoàng rót rượu, hỏi tôi bên đó thế nào, lương bao nhiêu, có bị bắt nạt không.
Hai đứa cháu — thằng lớn bảy tuổi, con bé bốn tuổi — ngồi cạnh tôi, gọi bác xưng con, còn lạ lắm nhưng cũng chịu ngồi.
Mẹ tôi ngồi ở mép mâm, phía gần cửa.
Bà ăn ít.
Bà cứ gắp cho tôi, tôi bảo mẹ ăn đi, bà nói mẹ ăn rồi.
Nền gạch bóng loáng.
Cầu thang có tay vịn gỗ.
Trên tường treo cái ảnh cưới của Hoàng với Thắm phóng cỡ lớn.
Trên bàn thờ có ảnh bố tôi.
Bố mất năm tôi hai mươi mốt.
Ảnh đen trắng, bố tôi đội mũ cối, mắt nheo lại vì nắng.
Tôi uống hết chén rượu, rồi tôi nói.
"Hoàng này. Mai anh em mình ra ngó cái mảnh đất mặt đường một tí."
Cái đũa của Hoàng dừng lại trên bát chừng một nhịp.
Chỉ một nhịp thôi.
Rồi nó gắp tiếp.
"Ừ. Mai. Mai em rảnh."
Thắm đứng dậy đi lấy thêm cơm, dù nồi cơm ở ngay đó.
Mẹ tôi vẫn nhìn xuống mâm.
Tôi không để ý.
Lúc đó tôi uống rượu, tôi đang vui, tôi vừa về nhà sau sáu năm.
Người ta lúc vui thì không nhìn thấy gì cả.
Để kể cho ra chuyện thì tôi phải nói về sáu năm kia.
Tôi đi năm hai mươi tám tuổi, qua một công ty phái cử ở thành phố.
Tiền cọc, tiền học tiếng, tiền vé, tiền khám sức khoẻ, tiền "dịch vụ" — tổng cộng một trăm tám mươi triệu.
Nhà tôi không có một trăm tám mươi triệu.
Mẹ tôi mang sổ đỏ mảnh vườn đi thế chấp.
Cái vườn đó là của ông bà để lại, có mấy cây mít với cái ao nhỏ.
Hôm ký giấy, bà mặc cái áo dài duy nhất bà có.
Bà ký không được.
Bà điểm chỉ.
Người ta đưa cái hộp mực đỏ, mẹ tôi ấn ngón cái vào, rồi ấn lên tờ giấy.
Bà lau tay vào vạt áo, lau mãi không sạch, đỏ cả một vệt trên vải.
Bà nói: "Con đi thì cố.
Mẹ ở nhà cũng cố."
Tôi sang Nhật.
Tỉnh lẻ, cách Tokyo mấy trăm cây, mùa đông tuyết ngập tới bắp chân.
Tôi làm giàn giáo.
Giàn giáo là thế này: người ta xây nhà, xây xưởng, mình dựng khung sắt xung quanh cho thợ khác đứng lên làm.
Mình leo, mình vác ống thép, mình vặn khoá.
Ngày mùa hè thì trên cao nóng như lò.
Ngày mùa đông thì ống thép lạnh tới mức găng tay dày cũng buốt tới xương.
Ký túc xá bốn người một phòng.
Tôi ở với anh Tuấn quê Nghệ An, thằng Kiên quê Hà Tĩnh, và một thằng nữa đi được hai năm thì bỏ ra ngoài làm chui, sau không ai biết nó đi đâu.
Bốn người, hai cái giường tầng, một cái bếp từ, một nồi cơm điện.
Tôi ăn cơm hộp của siêu thị lúc bảy giờ tối khi họ dán giảm giá.
Hộp cơm hai trăm yên.
Tôi ăn cái đó sáu năm.
Sáu năm tôi mua đúng hai cái áo khoác.
Cái thứ nhất mua năm đầu vì không có gì mặc.
Cái thứ hai mua năm thứ tư vì cái thứ nhất rách vai.
Tăng ca thì tôi nhận hết.
Có tháng tôi làm tám mươi tiếng tăng ca.
Mùa đông năm thứ hai, tay tôi nứt.
Nứt ở mấy đầu ngón và ở kẽ ngón cái, ra máu.
Tôi mua thuốc mỡ, dán băng dính y tế lên rồi đeo găng vào làm tiếp.
Nghỉ một ngày mất mười mấy nghìn yên.
Mười mấy nghìn yên là hơn hai triệu tiền Việt.
Hai triệu là hai tháng thuốc huyết áp của mẹ tôi.
Tôi gọi video về nhà mỗi tuần một lần, vào thứ Bảy.
Bên Nhật tôi gọi lúc năm giờ sáng trước khi đi làm, bên nhà là bảy giờ sáng, giờ mẹ tôi dậy cho gà ăn.
Sóng ký túc xá yếu.
Mặt mẹ tôi hay bị giật hình.
Có hôm chỉ nghe được tiếng.
Tôi kể tuyết.
Mẹ tôi chưa thấy tuyết bao giờ, bà hỏi tuyết có lạnh bằng nước giếng không.
Tôi bảo lạnh hơn.
Bà im một lúc rồi bảo "thế thì con mặc nhiều vào".
Và tôi nói với bà về cái xưởng.
Đấy là cái tôi nói nhiều nhất trong sáu năm.
Tôi bảo con để dành, trả xong nợ, xây lại cái nhà cho mẹ, rồi mua mảnh đất mặt đường liên xã, về mở cái xưởng cơ khí nhỏ.
Hàn cửa sắt, làm mái tôn, sửa máy nông nghiệp.
Ở quê mình việc đó không hết.
Con về, con không đi đâu nữa, con ở nhà với mẹ.
Bà nghe.
Lần nào bà cũng nghe.
Lần nào bà cũng hỏi lại "mảnh mặt đường chỗ gần cây xăng hả con", tôi bảo vâng, bà nói "ừ chỗ đó rộng".
Sáu năm, tuần nào cũng vậy.
Sau này tôi mới hiểu tại sao bà hỏi đi hỏi lại một câu.
Tiền thì tôi gửi thế này.
Bên Nhật, người Việt ít ai gửi qua ngân hàng.
Gửi ngân hàng phải ra chi nhánh, điền giấy tiếng Nhật, phí cao, mà tiền về nhà thì ba bốn ngày mới tới, còn bị hỏi nguồn gốc.
Nên có dịch vụ tay ba.
Mình đưa yên cho người làm dịch vụ bên Nhật, người nhà mình ở Việt Nam nhận tiền Việt ngay trong ngày, tỷ giá tốt hơn ngân hàng, phí vài chục nghìn.
Người làm dịch vụ chỗ tôi tên là chị Nhàn.
Chị người Hải Dương, sang Nhật từ lâu, lấy chồng bên đó, mở quán tạp hoá bán đồ Việt ở gần ga.
Ai gửi tiền thì tới quán chị.
Sáu năm, tôi gửi qua chị Nhàn.
Người nhận ở nhà là Hoàng — em ruột tôi, người duy nhất ở quê cạnh mẹ.
Mẹ tôi không cầm tiền được, bà không ra ngân hàng được, bà cũng không đọc được giấy.
Mỗi lần gửi, tôi nhắn cho Hoàng: "Anh gửi ba mươi triệu, mai người ta gọi thì ra nhận." Nó nhắn lại: "Ok anh."
Có tháng tôi gửi hai mươi.
Tháng nào tăng ca nhiều thì bốn mươi, năm mươi.
Tết thì gửi thêm.
Năm thứ hai trả xong nợ, lấy lại sổ đỏ mảnh vườn.
Từ năm thứ ba tôi gửi để xây nhà.
Năm thứ năm nhà xây xong, Hoàng gửi ảnh qua Zalo, tôi mở ra xem trong giờ nghỉ trưa, ngồi trên đống ống thép.
Anh Tuấn cùng phòng ghé sang nhìn, vỗ vai tôi: "Ngon.
Mày về là thành ông chủ."
Từ năm thứ năm tới khi tôi về, tôi gửi để mua đất và gom vốn làm xưởng.
Tổng cộng sáu năm, tôi gửi khoảng một tỷ tám trăm năm mươi triệu.
Và đây là chỗ tôi sai.
Tôi sai một chỗ thôi, nhưng sai chỗ đó là mất hết.
Tôi không có một dòng sao kê nào đứng tên tôi.
Không giấy chuyển tiền.
Không hợp đồng.
Không gì cả.
Tôi đưa tiền mặt cho chị Nhàn, em tôi nhận tiền mặt ở nhà.
Giữa hai đầu là tin nhắn Zalo — mà điện thoại tôi năm thứ ba rơi vỡ, tôi thay máy, tin nhắn cũ mất sạch.
Nó là em ruột tôi.
Cùng một mẹ đẻ ra, cùng ngủ một cái giường tre tới năm tôi mười lăm tuổi.
Ai lại đi làm hợp đồng với em ruột.
Sáng hôm sau tôi dậy sớm.
Tôi ngủ ở gian ngang, trên cái phản cạnh mẹ.
Đêm đó gió đập vào mái tôn, kêu từng đợt như có người gõ.
Tôi nằm nghe mẹ tôi trở mình mấy lần.
Sáu giờ, tôi ra sân.
Thắm đang quét.
Quét được mấy nhát thì nó nói, không nhìn tôi:
"Anh tính ở nhà lâu không?"
Tôi hơi khựng.
Câu đó hỏi anh chồng vừa về sau sáu năm thì nó lạ.
"Anh về hẳn."
Cái chổi của nó dừng.
Rồi nó "à" một tiếng, rồi quét tiếp, mạnh hơn.
Bảy giờ rưỡi Hoàng dậy.
Nó uống cà phê, hút một điếu thuốc, rồi bảo: "Đi anh."
Hai anh em đi xe máy ra đường liên xã.
Trời tháng Chạp, nắng nhẹ, gió biển mặn.
Hoàng dừng xe trước một mảnh đất gần cây xăng.
Mảnh đất rộng, mặt tiền chừng mười lăm mét, đã đổ đất tôn nền, có tường rào lửng xây gạch.
"Đây anh."
Tôi xuống xe.
Tôi đi vào giữa mảnh đất.
Tôi nhìn ra mặt đường.
Sáu năm tôi hình dung chỗ này.
Cái cổng cuốn tôn, cái biển "Cơ khí Hưng", máy hàn, máy cắt.
Buổi sáng tôi mở cửa xưởng, mẹ tôi bưng ấm chè ra.
Tôi ngồi xuống, bốc một nắm đất lên bóp trong tay.
Tôi hỏi, không quay lại: "Sổ đỏ đâu rồi mày?"
Hoàng đang châm điếu thuốc thứ hai.
Nó nói, giọng bình thường: "Ở nhà."
"Ừ, chiều đưa anh xem."
Nó không nói gì.
Tôi quay lại nhìn nó.
Nó đang nhìn ra đường.
Nó rít một hơi thuốc, nhả khói, rồi mới nói.
"Anh xem làm gì."
Hai anh em đứng đó, cách nhau chừng bốn mét, giữa mảnh đất trống.
Xe tải chạy qua trên đường, cuốn bụi lên.
Tôi hỏi lại, chậm hơn: "Mày nói gì cơ?"
Hoàng không trả lời tôi ở ngoài mảnh đất.
Nó dập điếu thuốc xuống nền đất, lấy chân di đi, rồi bảo "về đi anh, nắng".
Nó nổ xe.
Tôi ngồi lên sau.
Suốt bốn cây số về nhà, hai anh em không nói một câu.
Về tới sân, nó dựng xe, đi thẳng vào nhà, rót nước uống.
Tôi đứng ở cửa.
Tôi nói: "Đưa anh xem cái sổ."
Thắm đang ở trong bếp.
Nó đi ra, đứng dựa vào khung cửa bếp, khoanh tay.
Hoàng đặt cốc nước xuống bàn.
Nó thở ra một hơi, kiểu người phải làm cái việc mà nó đã nghĩ trước từ lâu rồi.
Nó lên gác.
Tôi nghe tiếng mở ngăn kéo.
Nó xuống, cầm hai cái sổ đỏ.
Nó đặt lên mặt bàn trà, đẩy về phía tôi.
Đẩy chứ không đưa.
Tôi mở cái thứ nhất — sổ đất thổ cư, mảnh đất có căn nhà hai tầng.
Phần tên: Nguyễn Văn Hoàng và Trần Thị Thắm.
Tôi mở cái thứ hai — mảnh đất mặt đường liên xã.
Nguyễn Văn Hoàng và Trần Thị Thắm.
Tôi đọc lại.
Tôi đọc tới lần thứ ba thì tôi mới thôi đọc.
Trong nhà, cái tủ lạnh chạy è è.
Ngoài sân có tiếng gà.
Trên gác có tiếng ti vi hoạt hình của hai đứa nhỏ.
Tôi để hai cái sổ xuống bàn.
"Hoàng."
"Dạ."
"Tiền ai xây cái nhà này?"
Nó nhìn tôi.
Nó không cúi mặt.
Đấy mới là cái làm tôi lạnh người — nó nhìn thẳng tôi.
"Anh gửi."
"Tiền ai mua mảnh đất mặt đường?"
"Anh gửi."
"Thế sao tên mày?"
Nó ngồi xuống salon.
Nó với lấy quả quýt trong đĩa, bóc.
"Anh gửi về là anh cho mẹ, cho em chứ. Anh đi làm ăn, anh gửi tiền về cho gia đình. Gia đình đây chứ đâu."
"Anh gửi về để xây nhà cho mẹ và mua đất để anh làm xưởng."
"Anh có nói thế thật." Nó bóc xong quả quýt, tách ra một múi. "Nhưng anh có giấy tờ gì không? Có hợp đồng gì không? Có tờ giấy nào ghi anh gửi bao nhiêu, gửi làm gì không?"
Tôi không nói được.
"Không có." Nó bỏ múi quýt vào miệng. "Anh nhắn Zalo em thì em cũng xoá rồi, mà nhắn Zalo thì nói lên được cái gì. Anh gửi qua chị Nhàn, chị Nhàn ghi sổ tay của chị ấy, ai công nhận. Ngân hàng anh có gửi đồng nào đâu."
Nó nói mấy câu đó trôi chảy quá.
Người ta không nói trôi chảy như thế nếu chưa nghĩ trước.
Tôi hiểu ra là nó đã ngồi tính cái này từ lâu rồi.
Có thể từ năm thứ ba.
Có thể từ hôm nó đi làm sổ.
"Mày tính cái này từ bao giờ?"
Nó không đáp câu đó.
Nó đổi chuyện.
"Anh đi sáu năm, ai ở nhà hầu mẹ?"
Tôi ngẩng lên.
"Anh đi sáu năm." Nó nhắc lại, giọng to hơn một chút. "Mẹ ốm ai đưa đi viện? Mẹ ngã ai bế? Mưa bão ai lên chằng mái? Giỗ chạp ai lo? Anh ở bên kia anh gửi tiền về là xong việc à? Tiền mua được cái đó à?"
Thắm ở khung cửa bếp nói xen vào: "Em nói thật với anh, sáu năm em hầu mẹ chồng, em có kêu câu nào không.
Anh về anh cầm cái sổ anh đòi, anh nghĩ coi có phải không."
Tôi nhìn sang mẹ tôi.
Bà đang ngồi trên cái ghế nhựa thấp ở gần cửa, tay cầm cái rổ, nhưng trong rổ chẳng có gì.
Bà nhìn xuống nền gạch.
Tôi gọi: "Mẹ."
Bà không ngẩng lên.
"Mẹ. Mẹ nói đi."
Bà nói, rất nhỏ: "Thôi con.
Anh em trong nhà."
Đấy.
Tôi có thể chịu được Hoàng.
Tôi có thể chịu được Thắm.
Tôi chuẩn bị tinh thần cho việc mất tiền từ lúc đọc cái tên trên sổ.
Nhưng câu "thôi con, anh em trong nhà" của mẹ tôi thì tôi không chuẩn bị.
Tôi đứng dậy.
Tôi ra sân.
Tôi đứng ở giữa sân gạch đỏ, dưới cái mái tôn che xe máy, và tôi không biết đi đâu.
Đó là nhà tôi xây.
Tôi không biết đi đâu trong nhà tôi xây.
Ba ngày sau đó tôi sống như người ở trọ.
Tôi vẫn ngủ ở gian ngang với mẹ.
Tôi ăn cơm chung, nhưng ăn nhanh rồi đứng dậy.
Hoàng đi làm — nó làm cai thầu vật liệu xây dựng, có xe tải nhỏ — sáng đi tối về, gặp tôi thì gật đầu, không nói.
Thắm thì nói.
Ngày thứ hai, tôi đang ngồi ở thềm gian ngang, hút thuốc.
Nó bê chậu quần áo ra sân phơi, vừa phơi vừa nói, không nhìn ai, kiểu nói với cái dây phơi:
"Nhà này nuôi thêm một miệng ăn thì cũng chẳng chết ai. Người ta ở Nhật sáu năm về tay trắng thì cũng là số."
Tôi ngồi im.
"Có người đi hai năm về mua được nhà. Có người đi sáu năm về ăn bám em dâu."
Tôi vẫn ngồi im.
Tôi hút hết điếu thuốc.
Không phải tôi nhịn giỏi.
Tôi ngồi im vì lúc đó tôi đang tính cái khác.
Tôi đang tính là mình có gì trong tay.
Tôi lấy sổ ra, cái sổ tay tôi mang từ Nhật về, và tôi ngồi ghi lại.
Từng lần gửi.
Tháng nào, bao nhiêu.
Tôi ghi được chừng sáu mươi phần trăm.
Có tháng tôi nhớ chính xác vì nó gắn với chuyện gì đó — tháng tôi bị ngã giàn giáo trầy hết một bên sườn, tháng tuyết lớn nghỉ mất bốn ngày công, tháng anh Tuấn về nước.
Có tháng tôi không nhớ nổi.
Tôi cộng lại: khoảng một tỷ tám trăm năm mươi triệu.
Một tỷ tám trăm năm mươi triệu ghi bằng bút bi trong một quyển sổ tay giấy ố, chữ tôi.
Ai tin.
Ngày thứ tư, tôi đi bộ ra quán nước đầu xóm.
Quán của bà Tám, bán chè xanh với thuốc lá, kê hai cái bàn nhựa.
Ngày xưa bố tôi hay ngồi đó.
Tôi ngồi uống chè.
Mấy ông trong xóm nhận ra tôi, hỏi han.
Tôi ừ à cho qua.
Rồi có ông Bảy — ông này ngày xưa đi cày thuê cho nhà tôi — ông nói:
"Thằng Hoàng nhà mày giỏi đấy. Mấy năm nay lên hẳn. Nhà cửa, xe cộ, đất cát. Nó bảo nó trúng mấy vụ vật liệu."
Tôi hỏi lại: "Nó bảo nó trúng vật liệu?"
"Ừ. Cả xóm ai chả biết. Nó khao cả xóm hôm khánh thành nhà, ba chục mâm."
Tôi cầm cái chén chè.
Chè nguội rồi.
Ba chục mâm.
Tôi đang ở Nhật cái hôm đó.
Tôi nhớ hôm đó vì Hoàng có gọi video cho tôi, quay cảnh nhà mới một vòng, rồi tắt vội bảo "em bận anh ạ".
Tôi tưởng nó bận việc.
Tôi hỏi bà Tám: "Bác ơi, cả xóm có ai biết cháu gửi tiền về không?"
Bà Tám nhìn tôi một lúc.
"Có nghe nói cháu đi Nhật. Nhưng gửi bao nhiêu thì ai biết. Thằng Hoàng nó bảo cháu đi bên đó cũng vất, gửi về được ít thôi, chủ yếu là nó làm ăn được."
Tôi để tiền chè lên bàn rồi đi về.
Đi được một đoạn tôi phải đứng lại ở gốc phi lao, vì hai chân tôi không nghe lời nữa.
Cái nó làm không phải là lấy tiền.
Nó xây luôn một câu chuyện khác, kể suốt sáu năm cho cả xóm nghe, để tới ngày tôi về thì tôi là thằng đi sáu năm không ra gì, còn nó là thằng làm ăn giỏi nuôi mẹ.
Nó chuẩn bị cả cái chỗ cho tôi đứng.
Tối hôm đó tôi định bỏ đi.
Tôi xếp đồ vào cái vali bung bánh.
Tôi tính sáng mai bắt xe khách vào Nam, đi phụ hồ, đi làm gì cũng được, còn hơn ở đây.
Mẹ tôi ngồi trên phản nhìn tôi xếp.
Bà không hỏi tôi đi đâu.
Bà chỉ hỏi: "Con ăn cơm chưa."
"Con ăn rồi."
Bà im.
Rồi bà nói: "Còn mấy hôm nữa giỗ bố."
Tôi dừng tay.
Giỗ bố tôi hai mươi bảy tháng Chạp.
Còn năm hôm.
Ở quê tôi, giỗ là việc của cả họ.
Nhà tôi thuộc chi trưởng, giỗ bố tôi thì các bác các chú ở mấy xóm đều về.
Ông bác trưởng họ — bác Thản, anh ruột bố tôi, tám mươi mốt tuổi — năm nào cũng tới, ngồi chiếu trên.
Mẹ tôi nói: "Con đi thì con đi sau giỗ."
Bà nói câu đó rồi bà quay đi, nằm xuống, kéo cái chăn chiên lên.
Tôi ngồi xuống mép phản.
Tôi nhìn lưng mẹ tôi.
Và tôi nghĩ — tôi nghĩ thật, tôi không giấu — tôi nghĩ mẹ tôi biết hết.
Tôi nghĩ bà chọn phe rồi.
Bà ở với Hoàng sáu năm, Hoàng nuôi bà, Hoàng cho bà ở, cháu nội bà là con Hoàng.
Tôi là đứa đi biệt sáu năm, mỗi tuần một cuộc gọi video giật hình.
Tôi nghĩ bà chọn đứa ở gần.
Ai mà chả thế.
Tôi nằm xuống, quay lưng lại với bà.
Sau này nghĩ lại, cái đêm đó là cái đêm tôi thấy xấu hổ nhất đời.
Sáng hôm sau tôi không đi.
Tôi ở lại vì cái giỗ.
Và vì một chuyện xảy ra lúc gần trưa.
Tôi đang ngồi ở thềm gian ngang vá lại cái quai vali bằng dây thép.
Thắm ở trong bếp, đang vo gạo.
Tôi nghe tiếng nó càu nhàu vọng ra.
"Trời ơi mẹ ơi. Con đã nói bao nhiêu lần rồi. Gạo là gạo, giấy là giấy."
Rồi tiếng mẹ tôi, nhỏ: "Mẹ để tạm."
"Để tạm cái gì mà để tạm. Mẹ già rồi lẩn thẩn thì lẩn thẩn vừa thôi, cứ moi giấy rác ở đâu về giấu vào thùng gạo. Mọt nó vào thì mất cả thùng gạo chứ đùa à."
"Mẹ lấy ra ngay đây."
"Mà giấy gì mà lắm thế. Sáu bảy năm nay cứ nhét. Con vứt đi thì mẹ lại tìm, mẹ khóc. Chịu mẹ."
Tôi ngồi ngoài thềm, tay vẫn cầm đoạn dây thép.
Sáu bảy năm nay.
Tôi bỏ cái vali xuống.
Tôi ngồi đó rất lâu, không vào, không đứng dậy.
Tôi nghe tiếng Thắm vo gạo xong, đổ nước, đậy nồi, đi ra sân.
Rồi tôi đứng lên, đi vào bếp.
Mẹ tôi đang đứng cạnh thùng gạo — cái thùng nhựa to màu xanh, cao tới hông, nắp đậy.
Bà thấy tôi thì bà giật mình.
Bà làm một việc rất nhanh, nhanh hơn cái tuổi của bà: bà đẩy cái nắp thùng gạo đậy lại, rồi bà đứng chắn trước nó.
Bà nhìn tôi.
Tay bà bấu vào vạt áo.
Tôi hỏi: "Mẹ giấu gì trong đấy?"
Mẹ tôi lắc đầu.
Rồi bà làm cái việc mà tới giờ tôi vẫn nhớ.
Bà đưa một ngón tay lên môi.
Bà ra hiệu cho tôi im.
Và bà liếc rất nhanh ra phía sân — chỗ Thắm đang phơi đồ.
Tôi lùi ra khỏi bếp.
Không phải vì tôi ngoan ngoãn.
Mà vì cái cách mẹ tôi đưa ngón tay lên môi rồi liếc ra sân — cái đó là cái của người sợ.
Tôi đã thấy người sợ.
Bên công trường, thằng làm chui hết hạn visa nó cũng nhìn quanh kiểu đó.
Mẹ tôi sợ cái gì trong nhà này.
Chiều hôm đó tôi tìm cách ở một mình với bà, nhưng không được.
Thắm ở nhà suốt.
Hai đứa nhỏ nghỉ Tết, chạy vào chạy ra.
Tối thì Hoàng về.
Tới gần mười giờ đêm, cả nhà tắt đèn.
Tôi nằm trên phản ở gian ngang.
Mẹ tôi nằm cách tôi một cái màn.
Tôi nói khẽ: "Mẹ ngủ chưa."
Bà không trả lời.
Nhưng tôi biết bà chưa ngủ, vì tôi không nghe tiếng thở đều.
"Mẹ. Con hỏi thật. Cái thùng gạo."
Im lặng một lúc lâu.
Ngoài kia gió đập tôn.
Rồi bà nói, giọng như nói vào chăn:
"Mai nó đi giao hàng cả ngày. Con Thắm đi chợ Tết. Lúc đó."
Tôi nằm im.
Tim tôi đập mạnh tới mức tôi nghe thấy nó trong cái phản gỗ.
"Mẹ. Mẹ biết chuyện nó làm sổ đỏ đứng tên nó không?"
Rất lâu.
Rồi mẹ tôi nói một câu mà tôi phải nghe hai lần mới hiểu.
"Mẹ không biết chữ trong giấy. Nhưng mẹ đếm được."
Sáng hôm sau là hai mươi lăm tháng Chạp.
Hoàng đi từ sáu giờ.
Thắm bảy giờ dắt xe đi chợ, chở hai đứa nhỏ theo.
Tám giờ, nhà chỉ còn tôi với mẹ.
Mẹ tôi đóng cổng.
Bà đóng cả cửa bếp.
Rồi bà bảo tôi khiêng cái thùng gạo ra.
Thùng gạo nặng, còn chừng nửa.
Tôi nghiêng nó, múc gạo ra cái chậu, múc gần hết.
Dưới đáy thùng, dưới lớp gạo cuối cùng, có một cái hộp thiếc.
Hộp bánh quy.
Loại hộp tròn, nắp sắt, ngày xưa người ta hay biếu nhau dịp Tết.
Vỏ hộp in hình mấy cái bánh bơ đã bạc màu, mép hộp han gỉ một vệt.
Tôi lấy nó ra.
Nó nặng hơn tôi tưởng.
Mẹ tôi lấy cái khăn lau sạch gạo bám ngoài hộp.
Bà lau kỹ, lau như lau cái gì quý.
Rồi bà đặt nó lên cái phản ở gian ngang, và bà mở nắp.
Trong hộp là giấy.
Giấy đủ loại.
Có những mảnh nhỏ bằng bàn tay, giấy pơ-luya mỏng in sẵn khung, loại biên nhận của mấy tiệm tạp hoá.
Có những mảnh xé từ vở học sinh.
Có mảnh xé từ bao thuốc lá, mặt trong.
Có tờ là mặt sau của tờ lịch bóc.
Tất cả đều gấp.
Gấp nhỏ lại, xếp chồng lên nhau, đầy tới miệng hộp.
Tôi cầm tờ trên cùng lên, mở ra.
Chữ viết tay, chữ Hoàng — tôi nhận ra chữ em tôi, nó viết chữ "g" có cái đuôi vòng rất to.
"Nhận 30.000.000đ. Ngày 14/3. Hoàng."
Tôi mở tờ thứ hai.
"Nhận 25tr — 8/5 — H."
Tờ thứ ba là giấy biên nhận in sẵn của bên dịch vụ, có ô ghi số tiền, ô ghi ngày, và một ô có chữ ký.
Chữ ký nguệch ngoạc của Hoàng.
Tôi mở tờ thứ tư.
Thứ năm.
Thứ mười.
Tay tôi bắt đầu run nên tôi phải để tờ giấy xuống phản mới mở được.
Tôi ngẩng lên nhìn mẹ tôi.
Bà ngồi bó gối trên mép phản, nhìn cái hộp.
"Mẹ... mẹ lấy đâu ra những cái này?"
Bà nói, chậm rãi, như người kể một việc rất bình thường:
"Mỗi lần nó đi nhận tiền về, người ta đưa nó cái giấy. Nó vứt. Nó vứt ở giỏ rác trong bếp, có lần nó vo tròn ném ra sân. Mẹ nhặt."
"Có lần không có giấy thì mẹ bảo nó ghi cho mẹ một tờ. Mẹ bảo mẹ già rồi hay quên, mẹ giữ để nhớ. Nó cười, nó bảo mẹ giữ làm gì, mẹ có đọc được đâu. Nhưng nó vẫn ghi. Ghi cho xong."
Bà nói câu cuối rất nhẹ.
"Nó nghĩ mẹ không đọc được thì giấy không làm gì được nó."
Tôi ngồi xuống nền xi măng.
Tôi không ngồi được trên phản nữa.
"Mẹ không đọc được thật mà con." Bà nói. "Mẹ học chưa hết lớp ba. Mẹ viết cái tên mẹ còn run."
"Thế mẹ biết tờ nào bao nhiêu tiền kiểu gì?"
Mẹ tôi cầm một tờ giấy lên.
Bà đưa nó ra ánh sáng cửa.
Rồi bà chỉ cho tôi cái góc tờ giấy.
Ở góc tờ giấy có một nếp gấp.
Gấp vào rồi miết cho phẳng, để lại một đường hằn.
"Nếp to là chục triệu." Bà nói. "Nếp nhỏ là triệu."
Bà mở tờ giấy ra hết, vuốt phẳng trên đùi.
"Tờ này ba nếp to. Ba chục triệu."
Tôi nhìn xuống tờ giấy trên phản — tờ đầu tiên tôi mở.
Nhận 30.000.000đ.
Ba nếp.
Tôi cầm tờ tiếp theo.
Nó có hai nếp to và năm nếp nhỏ.
Tôi mở ra đọc: hai mươi lăm triệu.
Tôi ngồi đó, giữa gian nhà ngang lợp tôn, với cái hộp bánh quy mở nắp, và tôi đếm.
Có tờ mẹ tôi gấp ở góc trên.
Có tờ gấp ở góc dưới.
Có tờ giấy quá bé thì bà gấp dọc theo mép.
Mỗi nếp gấp là một lần bà ngồi một mình, cầm tờ giấy người ta vứt đi, và miết ngón tay cái lên nó.
Sáu năm.
"Tờ nào mẹ không đọc được thì sao?"
"Mẹ không đọc được tờ nào cả con." Bà nói, và bà cười một cái rất nhỏ, kiểu cười của người tự nói mình dốt. "Mẹ nhờ con Mây."
Con Mây là cháu gọi tôi bằng bác, con của chị họ tôi ở cách đó hai nhà.
Năm nay nó học lớp năm.
"Nó sang chơi, mẹ cho nó cái kẹo, mẹ bảo con đọc cho bà nghe cái này. Nó đọc. Mẹ nghe xong mẹ gấp. Mẹ dặn nó đừng nói với ai, đây là việc của bà cháu mình."
"Có lần nào nó nói không?"
"Không. Nó ngoan."
Tôi phải đứng dậy đi ra sân một lúc.
Tôi đứng ở sân gạch, quay lưng vào nhà, và tôi đứng như thế một lúc lâu.
Sáu năm tôi ở Nhật, mỗi tuần gọi về một lần, hỏi mẹ ăn gì chưa, mẹ có khoẻ không, và mẹ tôi nói "mẹ khoẻ, con giữ sức".
Sáu năm bà ngồi trong cái bếp đó, nhặt giấy ở giỏ rác, cho một đứa bé cái kẹo để nó đọc hộ, rồi gấp một nếp ở góc.
Và cái đêm hôm kia, tôi nằm quay lưng lại với bà vì tôi nghĩ bà chọn phe.
Tôi vào lại.
Tôi ngồi xuống cạnh mẹ.
Tôi hỏi câu mà tôi phải hỏi.
"Mẹ. Sao mẹ không nói gì? Hôm nó đưa sổ đỏ ra. Mẹ ngồi ngay đấy. Sao mẹ không nói?"
Mẹ tôi không trả lời ngay.
Bà cầm cái nắp hộp thiếc lên, xoay xoay trong tay.
Móng tay bà cạo một vệt gỉ ở mép nắp.
"Nó doạ mẹ."
Tôi im.
"Năm kia." Bà nói. "Lần đó mẹ có nói. Mẹ bảo nó là tiền thằng Hưng gửi thì phải để cho thằng Hưng, con để tên con thì mai kia anh em nó cãi nhau. Mẹ chỉ nói thế thôi."
Bà dừng lại.
Cái nắp hộp trong tay bà xoay chậm hơn.
"Nó bảo mẹ mà nói linh tinh thì nó gửi mẹ lên ở với dì Tư trên Đắk Lắk. Nó bảo trên đó dì Tư còn khoẻ, còn hầu mẹ được. Nó bảo nó bận làm ăn, không nuôi nổi."
Tôi nói: "Thì mẹ lên.
Con về con đón mẹ."
Mẹ tôi lắc đầu.
"Con không hiểu."
Bà đặt cái nắp hộp xuống.
"Lên Đắk Lắk thì mẹ không gặp hai đứa nhỏ nữa."
Tôi ngồi im.
"Thằng Bin nó ngủ với bà từ lúc nó đỏ hỏn. Nó ba tuổi nó mới chịu ngủ với mẹ nó. Con Na thì bà tắm cho nó từ lúc nó chưa biết lẫy." Bà nói, mắt vẫn nhìn cái hộp. "Mẹ đi rồi, một năm về được mấy lần. Trẻ con nó quên nhanh lắm con ạ. Hai năm là nó gọi bà bằng bà thôi chứ nó không nhớ bà là ai."
"Mẹ già rồi. Mẹ còn mấy năm nữa. Mẹ đổi mấy năm đó lấy cái gì."
Bà im một lúc.
"Mẹ nghĩ là mẹ cứ ở đây. Mẹ ở gian này cũng được, mẹ quen rồi. Mẹ ở gần hai đứa nhỏ. Rồi mẹ giữ cái hộp này. Tới ngày con về thì mẹ đưa con."
"Mẹ chỉ nghĩ được đến thế thôi."
Bà nói câu đó rồi bà thôi, không nói nữa.
Tôi ngồi dưới nền xi măng, cạnh chân bà.
Tôi muốn nói cái gì đó.
Tôi mở miệng mấy lần.
Nhưng cái tôi nghĩ ra để nói thì nó bé quá so với cái sáu năm kia, nên tôi không nói được câu nào.
Cuối cùng tôi chỉ đặt tay lên bàn chân mẹ tôi.
Chân bà lạnh.
Mẹ tôi nói: "Con đừng khóc.
Người ta thấy."
Tôi bảo con không khóc.
Chiều hôm đó tôi ngồi đếm hết cái hộp.
Một trăm lẻ bốn tờ.
Tôi ghi ra giấy từng tờ: ngày, số tiền, có chữ ký hay không.
Tôi cộng lại.
Một tỷ bốn trăm hai mươi triệu.
Thiếu.
So với con số tôi nhớ thì thiếu hơn bốn trăm triệu.
Có những lần Hoàng không đưa giấy, hoặc nó vứt ở ngoài, hoặc mẹ tôi không nhặt được.
Nhất là mấy lần đầu, năm thứ nhất, lúc bà chưa nghĩ ra việc phải giữ.
Một tỷ bốn hai.
Vẫn là một con số lớn.
Nhưng nó không đủ.
Nó không đủ vì Hoàng sẽ nói: giấy này ai viết cũng được, mẹ già lẩn thẩn nhặt giấy rác, ai biết đâu là giấy gì.
Mấy chục tờ chỉ ghi "nhận 30tr" chữ nguệch ngoạc, không có tên bên đưa, không có tên tôi.
Tôi cần cái nối hai đầu lại.
Tôi cần cái chứng minh tiền đó là tiền tôi gửi từ Nhật, chứ không phải tiền ở đâu khác.
Tôi cần chị Nhàn.
Chị Nhàn về nước ăn Tết năm nào cũng về.
Tôi biết chị về Hải Dương.
Tôi lấy số chị trong máy, gọi.
Chuông đổ lâu.
Rồi chị bắt.
"Alô."
"Chị Nhàn ạ. Em Hưng đây. Hưng giàn giáo, ở chỗ ga, hay gửi tiền chỗ chị ấy."
"À. Hưng. Về rồi hả em. Chị nghe nói em về."
"Vâng em về rồi. Chị ơi, chị về Việt Nam chưa ạ."
"Chị về hôm hai ba. Đang ở nhà bố mẹ chị."
Tôi nói.
Tôi nói hết, gọn nhất có thể.
Tôi kể cái sổ đỏ, kể câu em tôi nói, kể cái hộp bánh quy.
Tôi nghe đầu bên kia im rất lâu.
Rồi chị nói: "Em ơi.
Chị thương em.
Nhưng cái sổ chị không đưa được."
Tôi đứng chết ở giữa sân.
"Chị..."
"Em nghe chị nói." Giọng chị gấp lại. "Cái nghề của chị nó bạc lắm em ạ. Chị làm mười mấy năm, chị giữ uy tín mười mấy năm. Năm kia có vụ một nhà kia, tiền chị chuyển rồi mà bên nhà cãi là chưa nhận, chị phải đền hơn hai trăm triệu. Từ đó người ta đồn chị này chị nọ, khách bỏ chị gần nửa."
"Giờ chị đưa sổ ra, chuyện nhà em ầm lên, người ta lại lôi chị vào. Người ta hỏi chị làm cái này có phép tắc gì không. Chị làm chui em ạ. Chị không có giấy phép gì hết. Chị mà dính vào là chị mất nghề, mà chị còn hai đứa con đi học bên đó."
"Chị xin lỗi em. Chị thật sự xin lỗi em."
Chị cúp máy.
Tôi đứng ở sân.
Trong nhà trên, ti vi đang chiếu quảng cáo bánh kẹo Tết, tiếng hát vọng ra.
Trên phản gian ngang, cái hộp thiếc mở nắp, một trăm lẻ bốn tờ giấy xếp thành ba chồng, mỗi chồng chặn bằng một cái chén.
Còn hai ngày nữa là giỗ bố tôi.
Và tôi có một hộp giấy không ai công nhận, một quyển sổ tay tôi tự ghi, và một người đàn bà tám mươi ba cân ở Hải Dương vừa cúp máy vì chị ấy sợ.
Tôi ngồi xuống bậc thềm.
Rồi điện thoại tôi rung.
Một tin nhắn.
Số chị Nhàn.
"Em cho chị cái địa chỉ nhà em."
Chị Nhàn không nói thêm gì trong tin nhắn đó.
Tôi nhắn địa chỉ.
Chị chỉ trả lời hai chữ: "Chị biết rồi."
Tôi không dám hy vọng nhiều.
Suốt một ngày rưỡi sau đó tôi nhắn hỏi hai lần, chị không trả lời.
Hai mươi bảy tháng Chạp.
Giỗ bố tôi.
Ở quê tôi giỗ làm từ sáng sớm.
Bốn giờ rưỡi đàn bà đã dậy làm gà.
Sáu giờ các bác các chú bắt đầu tới.
Tám giờ cúng.
Chín giờ hạ mâm, ăn.
Sân nhà tôi trải chiếu, kê bảy mâm.
Chiếu trên đặt trong nhà, gần bàn thờ, dành cho các bậc trên.
Bác Thản tới lúc gần bảy giờ.
Bác là anh ruột bố tôi, tám mươi mốt tuổi, trưởng họ.
Bác chống gậy, mặc áo the đen cũ, cái áo bác mặc mọi đám giỗ từ khi tôi còn bé.
Bác thấy tôi thì bác đứng lại.
"Thằng Hưng về rồi đấy à. Lại đây bác xem nào."
Bác cầm cổ tay tôi, lật lên xem lòng bàn tay.
Tay tôi chai từ gốc mấy ngón, vết nứt mùa đông còn để lại sẹo trắng ở kẽ.
Bác bỏ tay tôi ra, không nói gì, đi vào nhà ngồi chiếu trên.
Hoàng hôm đó chạy ngược chạy xuôi.
Nó rót rượu, mời thuốc, chào hết lượt các bác.
Nó mặc áo sơ mi mới.
Nó cười nhiều.
Mẹ tôi ngồi ở gian bếp.
Tám giờ, cúng xong, hạ mâm.
Rượu vào, chuyện nổ ra rôm rả.
Rồi đến đoạn mà năm nào cũng có, cái đoạn người ta khen nhà.
Một ông chú họ vỗ vai Hoàng: "Nhà mày làm được đấy.
Bố mày mà còn sống thì bố mày mừng."
Hoàng cười, rót rượu.
Bác Thản ngồi chiếu trên, đặt chén xuống, nói vọng ra:
"Thằng Hoàng làm ăn được thật. Nhưng còn thằng anh nó thì sao. Hưng đâu. Mày về mày tính làm gì?"
Cả sân im bớt đi một chút.
Người ta quay nhìn tôi.
Tôi đang ngồi ở mâm gần cửa.
Tôi đặt đôi đũa xuống.
Đây là lúc.
Tôi đứng dậy.
"Bác ơi. Cháu muốn thưa với bác và các bác các chú một chuyện. Chuyện nhà cháu."
Hoàng đang rót rượu.
Cái chai trong tay nó dừng lại.
Bác Thản nói: "Nói đi."
Tôi kể.
Tôi kể gọn.
Tôi nói tôi đi Nhật sáu năm, làm giàn giáo.
Tôi nói tôi gửi tiền về, gửi qua dịch vụ, người nhận là Hoàng.
Tôi nói tôi gửi khoảng một tỷ tám trăm năm mươi triệu.
Tới con số đó thì cả sân im hẳn.
Có ông đang gắp, dừng đũa giữa chừng.
Tôi nói tiếp: tiền đó xây cái nhà này, mua mảnh đất mặt đường.
Và sổ đỏ hai cái đều đứng tên Hoàng với Thắm.
Hoàng đặt chai rượu xuống chiếu.
Nó đứng lên.
Mặt nó đỏ, nhưng không phải đỏ vì rượu.
"Anh. Anh làm cái trò gì đấy. Hôm nay là giỗ bố."
"Đúng. Hôm nay là giỗ bố. Nên anh nói ở đây."
"Anh nói cái gì? Anh có bằng chứng gì mà anh nói giữa họ hàng?" Nó quay sang bác Thản. "Bác ơi, anh cháu ở bên kia về, chắc bên đó không được như ý, về nhà anh ấy nghĩ quẩn. Bác đừng nghe..."
"Tao chưa hỏi mày." Bác Thản nói. Bác nói không to. "Tao đang nghe thằng anh mày."
Hoàng im.
Bác quay sang tôi: "Mày bảo mày gửi.
Có gì làm bằng không?"
Đấy là câu tôi chờ.
Tôi đi vào gian ngang.
Tôi bê cái hộp thiếc ra.
Tôi để nó xuống chiếu trên, trước mặt bác Thản.
Rồi tôi mở nắp.
Rồi tôi đổ.
Một trăm lẻ bốn tờ giấy đổ ra chiếu.
Giấy vở học sinh, giấy biên nhận pơ-luya, mặt sau tờ lịch bóc, mảnh bao thuốc lá.
Tờ nào cũng có nếp gấp ở góc.
Cả sân đứng dậy xúm lại.
Tôi cầm từng tờ lên, đọc to.
"Ngày mười bốn tháng ba. Nhận ba mươi triệu. Ký tên Hoàng."
"Ngày tám tháng năm. Nhận hai mươi lăm triệu. Ký tên H."
"Ngày hai mươi tháng chín. Nhận năm mươi triệu. Có chữ ký."
Tôi đọc tờ thứ tư thì Hoàng lao tới.
Bác Thản giơ cái gậy ngang ra chắn.
"Mày ngồi xuống."
Nó đứng lại.
Nó thở.
Tôi đọc tiếp.
Tôi đọc mười lăm tờ.
Tay tôi run nên tôi phải để tờ giấy lên đùi.
Rồi tôi dừng, và tôi nói cái phần khó nhất.
"Mấy tờ này không phải cháu giữ. Cháu ở bên kia, cháu giữ thế nào được."
Tôi quay vào bếp.
"Mẹ ơi. Mẹ ra đây."
Mẹ tôi ra.
Bà đứng nép ở khung cửa bếp, tay còn cầm cái khăn.
"Mẹ ra đây với con."
Bà đi ra, đến gần chiếu, rồi bà ngồi thụp xuống ở mép chiếu, kiểu ngồi của người không dám ngồi hẳn.
Tôi nói với cả sân:
"Mẹ cháu nhặt. Sáu năm. Nó nhận tiền về nó vứt giấy, mẹ cháu nhặt ở giỏ rác. Mẹ cháu không đọc được chữ. Mẹ cháu nhờ con Mây nhà chị Hoà đọc hộ, rồi mẹ cháu gấp một nếp ở góc để nhớ tiền. Nếp to là chục triệu. Nếp nhỏ là triệu."
Tôi cầm một tờ lên, giơ cái góc gấp ra cho mọi người xem.
"Tờ này ba nếp to. Ba mươi triệu. Các bác đọc chữ trong tờ giấy xem có đúng không."
Một chú cầm lấy, đọc, rồi ngẩng lên: "Ba mươi triệu."
Không ai nói gì.
Tôi nhìn thấy một bác gái đưa tay lên miệng.
Tôi nghe tiếng bác Thản đặt cái gậy xuống chiếu.
Bác cúi xuống, nhặt một tờ giấy lên.
Tay bác run vì tuổi.
Bác giơ tờ giấy ra xa mắt, nheo mắt nhìn cái góc gấp.
Bác giữ tờ giấy đó rất lâu.
Rồi bác quay sang mẹ tôi.
"Thím."
Mẹ tôi cúi mặt.
"Thím giữ sáu năm, sao thím không nói với ai?"
Mẹ tôi không trả lời.
Tôi định nói thay bà.
Nhưng bà đưa tay ra chặn tôi lại.
Rồi bà nói.
Bà nói rất nhỏ, nhưng lúc đó cả sân im nên ai cũng nghe.
"Nó bảo tôi mà nói thì nó đưa tôi lên Đắk Lắk ở với dì nó."
"Thì thím lên. Có anh em họ hàng đây."
"Lên đấy thì tôi không được gặp hai đứa cháu nữa bác ạ."
Bà nói xong thì bà cúi xuống, lấy cái khăn trong tay lau lên mép chiếu, lau chỗ chẳng có gì bẩn.
Cả sân không ai nói được câu nào.
Tôi nghe tiếng một bà nào đó ở phía sau khóc.
Hoàng vẫn chưa chịu.
Nó là đứa lì.
Nó bước lên một bước, nói:
"Giấy này là giấy gì? Ai chứng được đây là tiền anh gửi? Mẹ nhặt được mấy tờ giấy con viết cho người ta, ai biết là tiền của ai. Con làm vật liệu, con nhận tiền hàng cả ngày, con ghi cho khách cả đống giấy."
Nó nói câu đó thì có mấy người gật gù thật.
Lý của nó cũng có lý.
"Anh chứng minh đi. Anh chứng minh tiền đó từ Nhật về đi."
Tôi không có cái để chứng minh.
Tôi đứng đó.
Và rồi có tiếng xe máy ngoài cổng.
Chị Nhàn xuống xe ôm ở ngoài cổng, xách một cái túi vải.
Chị mặc áo khoác phao, tóc buộc, mặt mệt.
Chị đi từ Hải Dương vào từ đêm, xe khách, rồi bắt xe ôm từ bến vào.
Chị đứng ở cổng, nhìn vào cái sân đầy người.
Tôi ra đón chị.
Chị nói nhỏ với tôi, đúng một câu:
"Chị có mẹ già. Chị nghĩ hai đêm rồi."
Chị vào.
Chị chào các bác.
Rồi chị mở túi vải.
Chị lấy ra một cái cặp ba dây, và trong đó là bản chụp.
Mấy chục trang.
Chụp bằng điện thoại rồi in ra khổ A4.
Mỗi trang là một trang sổ tay của chị.
Kẻ cột: ngày, tên người gửi bên Nhật, số yên, tỷ giá, số tiền Việt, tên người nhận, và cột cuối — chữ ký người nhận.
Chị đặt xấp giấy xuống chiếu, cạnh đống giấy trong hộp bánh quy.
Chị nói với bác Thản:
"Cháu chào bác. Cháu tên Nhàn, cháu làm dịch vụ chuyển tiền cho anh em lao động bên Nhật. Anh Hưng gửi tiền qua cháu sáu năm nay. Nghề của cháu là nghề tin nhau, không sổ thì không ai dám gửi. Cháu ghi tay, người nhận ký. Đây là sổ của cháu."
Chị lật từng trang.
"Ngày mười bốn tháng ba. Hưng gửi. Một trăm bảy mươi nghìn yên. Bên nhà nhận ba mươi triệu. Người nhận ký đây."
Bác Thản cầm tờ giấy in.
Rồi bác cầm tờ giấy nhàu trong hộp bánh quy, tờ cùng ngày.
Bác đặt hai tờ cạnh nhau trên chiếu.
Cùng ngày.
Cùng số tiền.
Cùng một chữ ký, cái chữ "g" có đuôi vòng to.
Bác lật tờ tiếp.
Rồi tờ tiếp.
Bác lật được chừng mười tờ thì bác dừng.
Bác ngẩng lên nhìn Hoàng.
Bác không quát.
Bác chỉ nói:
"Mày ra đây."
Hoàng không ra.
Nó đứng ở giữa sân, giữa bảy mâm cỗ đã nguội, giữa mấy chục người trong họ, và nó nhìn quanh một vòng.
Tôi nhìn mặt nó lúc đó.
Nó không tìm cách cãi nữa.
Nó tìm một người nào đó trong sân nhìn nó kiểu cũ — kiểu thằng Hoàng làm ăn giỏi.
Không có ai.
Cái chú họ lúc nãy vỗ vai nó thì quay mặt đi.
Mấy bà trong họ nhìn xuống chiếu.
Thắm đứng ở cửa bếp.
Nó không bênh chồng nó câu nào.
Nó nhìn mẹ tôi ngồi ở mép chiếu, rồi nó quay vào trong bếp, đứng quay lưng ra.
Hoàng bước lùi một bước.
Rồi nó ngồi xuống bậc thềm, hai tay ôm đầu.
Chuyện giải quyết ngay chiều hôm đó, trước khi các bác về.
Bác Thản ngồi chiếu trên.
Bác nói, chậm, từng câu một, và không ai cãi câu nào.
Bác nói: họ nhà này không có thằng nào ăn tiền của anh ruột nó.
Bác nói: cái nhà thì cứ để đấy, vì trong nhà còn hai đứa trẻ con, không ai đuổi trẻ con ra đường ngày giáp Tết.
Nhưng mảnh đất mặt đường là tiền thằng Hưng gửi về để nó làm ăn, thì phải trả tên nó.
Bác nói: ra Tết làm thủ tục sang tên.
Bác đi cùng.
Bác nói câu cuối với Hoàng:
"Còn mày. Từ hôm nay tao không cho mày đứng chiếu trên trong họ này nữa. Mày ngồi mâm dưới."
Ở quê tôi câu đó nặng hơn mọi câu khác.
Hoàng ngồi ở bậc thềm, không ngẩng lên.
Nó nói đúng một câu, nói với nền sân:
"Con xin lỗi bác."
Nó không xin lỗi tôi.
Tới giờ nó vẫn chưa xin lỗi tôi.
Ra Tết, mùng mười, làm xong giấy tờ sang tên mảnh đất mặt đường.
Tôi cầm cái sổ đỏ có tên tôi.
Tôi ngồi trên xe máy ở ngoài đường liên xã, giở ra xem, rồi gấp lại bỏ vào túi áo trong.
Tôi không thấy sướng.
Tôi cứ tưởng tôi sẽ thấy sướng.
Hoàng dọn đi sau Tết.
Nó thuê nhà ngoài thị trấn, đưa vợ con ra đấy.
Có lần tôi đi chợ huyện, tôi thấy cái xe tải nhỏ của nó đỗ trước một cửa hàng gạch.
Nó đang bốc hàng.
Nó nhìn thấy tôi.
Hai anh em nhìn nhau chừng hai giây.
Rồi nó quay đi, bốc tiếp.
Tôi cũng đi tiếp.
Đến giờ đã hơn một năm.
Hai anh em tôi không nói với nhau câu nào nữa.
Tôi có mảnh đất.
Tôi mất thằng em.
Ngày xưa nó với tôi ngủ chung một cái giường tre.
Mùa hè nóng, hai anh em nằm trở đầu đuôi, chân nó gác lên mặt tôi, tôi đạp nó xuống đất.
Nó khóc, mẹ mắng tôi.
Tôi vẫn nhớ cái đó.
Tôi không muốn nhớ nhưng tôi vẫn nhớ.
Nhưng cái tôi muốn kể thì không phải chuyện mảnh đất.
Hôm sau ngày giỗ, tôi dọn cho mẹ tôi lên nhà trên.
Tôi lấy cái phòng ở tầng một, phòng sáng nhất, có cửa sổ nhìn ra vườn.
Tôi kê giường, mắc màn, mua cái chăn bông mới.
Rồi tôi ra gian ngang dọn đồ của bà.
Đồ của mẹ tôi ít.
Một cái bọc quần áo.
Một cái nón.
Cái đài nhỏ nghe chèo.
Cái hộp thuốc huyết áp.
Và cái hộp thiếc.
Giấy trong hộp thì hôm trước đã lấy ra hết, bác Thản giữ mấy chục tờ để làm thủ tục.
Tôi tưởng cái hộp rỗng rồi.
Tôi cầm lên thì nó vẫn nặng ở một góc.
Tôi mở ra.
Dưới đáy hộp, dưới một lớp giấy báo lót, có một cuộn dây thun buộc quanh một tập bìa cứng.
Tôi tháo dây.
Đó là những tờ lịch bóc.
Loại lịch bóc hàng ngày, tờ nhỏ bằng bàn tay, mỗi tờ một ngày, in số to màu đỏ.
Chúng được xếp thành từng tập, mỗi tập buộc riêng bằng một sợi thun.
Tôi đếm được sáu tập.
Tôi mở tập trên cùng.
Tờ trên cùng là ngày tôi bay — tôi nhớ cái ngày đó, mười một tháng tư.
Tôi lật.
Tờ tiếp theo.
Tờ tiếp theo nữa.
Đủ.
Không thiếu tờ nào.
Sáu tập.
Sáu năm.
Không thiếu một ngày.
Mỗi sáng bà bóc một tờ, và bà không vứt.
Trên mỗi tờ, ở góc, có một dấu bút bi.
Chỉ là một cái gạch nhỏ, hoặc một cái chấm.
Chữ bà viết không được thì bà gạch.
Có những tờ bà gạch hai gạch.
Tôi ngồi xem những tờ gạch hai gạch đó, và tôi nhận ra — đó là những ngày thứ Bảy.
Thứ Bảy là ngày tôi gọi video về.
Tôi ngồi trên cái phản ở gian ngang, với sáu tập lịch trên đùi, và tôi ngồi như thế cho tới lúc trời tối hẳn, không bật đèn.
Mẹ tôi gọi tôi vào ăn cơm hai lần.
Tôi bảo con vào ngay.
Bà đếm ngày tôi về.
Bà đếm đủ hai nghìn một trăm chín mươi ngày, bằng cách duy nhất bà biết đếm.
Trong khi tôi tưởng bà chọn phe.
Bây giờ cái xưởng cơ khí của tôi mở được tám tháng rồi.
Nhỏ thôi, hai thợ.
Hàn cửa sắt, làm mái tôn, sửa máy cày.
Sáng nào mẹ tôi cũng bưng ấm chè ra, để lên cái bàn nhựa ngoài cửa xưởng, rồi ngồi đó một lúc nhìn tôi làm.
Bà không nói gì nhiều.
Bà ngồi thôi.
Sáu tập lịch tôi để trong cái hộp thiếc, cất trong tủ, chỗ tôi để sổ đỏ.
Có người hỏi tôi cầm về làm gì mấy tờ lịch cũ.
Tôi bảo để đấy.
Cái sổ đỏ chỉ chứng minh mảnh đất là của tôi.
Còn cái hộp kia chứng minh suốt sáu năm ấy, có một người ở nhà, ngày nào cũng bóc một tờ giấy, để chắc rằng tôi còn đường về.


