Halab
Về quê ăn giỗ, tôi bị cả họ khinh là kẻ nghèo ăn bám, xếp ngồi mâm dưới với trẻ con
Truyện

Về quê ăn giỗ, tôi bị cả họ khinh là kẻ nghèo ăn bám, xếp ngồi mâm dưới với trẻ con

· 30 phút đọc · Halab

"Mâm trên chật rồi, chú Tư ngồi tạm dưới hè cho thoáng, có gì cháu bưng cơm ra sau."

"Cháu vừa nói gì?"

"Cháu nói mâm trên chật."

"Chật thật hay chật kiểu khác?"

"Chú hỏi lạ. Chật là chật chứ chật kiểu gì."

"Ừ. Chú hỏi cho rõ thôi."

Tôi đứng khựng giữa sân, tay còn cầm túi trái cây mua vội ngoài thị trấn.

Người vừa buông lời là thằng Khoa, con anh Hai tôi, cháu ruột, năm nay ngoài ba mươi, sơ mi trắng phẳng lì, cổ đeo sợi dây chuyền vàng chóe.

Nó không nhìn thẳng vào mặt tôi.

Nó hất cằm về phía dãy bàn kê tạm sau bếp.

"Chú để trái cây đây cháu cầm cho."

"Chú tự để lên bàn thờ được."

"Chú cứ đưa cháu."

"Khoa này."

"Dạ."

"Trái cây thắp cho ông nội, để chú tự đặt."

"Thì chú đặt. Có gì đâu mà chú căng."

Đám giỗ ông nội năm nay đông.

Nhà anh Hai ở giữa làng, mới xây lại ba tầng, cổng sắt sơn giả đồng, trong sân bày mấy dãy bàn phủ khăn đỏ.

Dọc con ngõ đậu kín xe hơi, tấm nào cũng sạch bong.

Chiếc xe máy cũ của tôi dựng nép một góc, lọt thỏm.

Ở cái làng này, đám giỗ không chỉ là giỗ.

Nó là chỗ người ta đếm nhau.

"Ơ, chú Tư về đấy à?"

"Vâng, cháu chào bác Năm."

"Chú Tư dạo này khá không?"

"Cháu vẫn thế bác ạ."

"Vẫn thế." Bác Năm quay sang người ngồi cạnh, cười khà. "Đấy, tôi nói có sai đâu. Thời buổi này làm ăn khó, không phải ai cũng gánh nổi."

"Bác nói phải."

"Có người đi mấy chục năm, về vẫn hoàn tay trắng. Khổ."

Cả mâm cười rộ.

Có người tế nhị cúi xuống gắp thức ăn.

Có người cười thẳng vào cái sự nghèo mà họ đã đóng đinh lên trán tôi từ lâu.

"Bác Năm."

"Gì chú?"

"Bác vừa nói tay trắng."

"Thì tôi nói chung chung, chú đừng tự ái."

"Cháu không tự ái đâu bác. Cháu chỉ hỏi cho rõ, tay trắng nghĩa là gì ạ."

"Ơ hay. Tay trắng là không có gì trong tay chứ là gì."

"Vâng."

"Sao? Chú có gì trong tay à?"

"Cháu có ba nén nhang, bác ạ. Cháu đi thắp cho ông nội đây."

Bác Năm hừ mũi, quay đi.

Tôi đặt túi trái cây lên bàn thờ, thắp cho ông nội ba nén nhang.

Khói bay lên, mắt tôi cay cay, không hẳn vì khói.

"Chú Tư mua trái cây ở đâu đấy?"

"Ngoài chợ thị trấn cháu ạ."

"Chợ thị trấn hàng dạt lắm chú ơi."

"Chú thấy vẫn tươi mà."

"Nhà cháu mua toàn ở siêu thị ngoài thị trấn. Có tem, có mã vạch."

"Ừ."

"Chú mua hết bao nhiêu?"

"Chú không nhớ."

"Chắc cũng phải hai trăm nhỉ?"

"Chắc thế."

"Giỏ nhà cháu tám trăm đấy chú."

"Cháu đặt lên bàn thờ đi. Chú đứng ra cho."

"Cậu Tư! Vào ăn đi chứ đứng đó làm gì."

Chị dâu tôi, vợ anh Hai, từ trong bếp bước ra, tay bưng đĩa xôi.

Chị nhìn tôi từ đầu tới chân, ánh mắt dừng lại ở đôi dép nhựa đã mòn gót.

"Cậu ngồi tạm bàn sau với mấy đứa nhỏ nhé."

"Sao lại bàn sau hả chị?"

"Mâm trên toàn mấy bác lớn với khách quý, chật lắm."

"Khách quý là những ai chị?"

"Thì... ông chủ xưởng gỗ, ông chủ đại lý phân bón nhà anh làm ăn chung, với mấy người bà con vừa trúng đất."

"Còn cháu ruột của cụ ông đang giỗ hôm nay thì ngồi sau bếp."

Chị dâu khựng lại nửa giây.

"Cậu Tư nói gì thế?"

"Em nói em ngồi sau bếp cũng được chị ạ."

"Đấy. Cậu biết điều là tôi quý."

"Vâng."

Tôi bước xuống bàn sau.

Bàn này kê tạm bằng hai cái bàn học cũ ghép lại, khăn trải là tấm nhựa hoa đã ố.

Thức ăn là những đĩa dọn sau cùng, nguội bớt.

"Cháu là con thằng nào ấy nhỉ? Trông quen quen."

"Cháu là Tư, con út ông Sáu, bà ơi."

"Tư nào?"

"Thằng Tư hay theo ông nội ra ruộng ấy bà."

"À!" Bà cụ Bảy vỗ đùi. "Thằng Tư đi xa đó hả. Bà nhớ rồi. Hồi nhỏ mày gầy nhom, đen thui."

"Giờ cháu vẫn đen ạ."

"Mày đi mấy chục năm rồi nhỉ?"

"Hai chục năm bà ạ."

"Giờ về làm gì cháu?"

"Cháu làm lặt vặt trên thành phố thôi bà."

"Lặt vặt là làm gì?"

"Là cái gì cũng làm ạ."

"Ừ, cứ có việc là tốt. Ăn đi cháu."

Bà cụ gắp cho tôi miếng trứng.

Tôi gắp lại cho bà miếng thịt.

"Bà ơi."

"Gì cháu?"

"Bà ngồi mâm dưới bà có buồn không?"

"Buồn gì. Ngồi đây hay chứ."

"Hay chỗ nào ạ?"

"Trên kia ồn ào, toàn chuyện tiền bạc, nghe nhức đầu. Với lại bà lãng tai, ngồi trên bà cũng có nghe được đâu."

Tôi bật cười.

Hoá ra ở cái mâm bị người ta chê này lại là chỗ yên tĩnh nhất, thật thà nhất.

Không ai ở đây phải gồng lên khoe mẽ.

"Bà Bảy này."

"Gì?"

"Bà ngồi mâm dưới bao nhiêu năm rồi ạ?"

"Từ hồi ông nội cháu còn sống."

"Ông nội cháu để bà ngồi mâm dưới ạ?"

"Không." Bà cụ lắc đầu. "Ổng kéo ghế ổng xuống ngồi với bà."

Tôi ngừng đũa.

"Ông nội cháu ngồi mâm dưới ạ?"

"Ừ. Năm nào cũng vậy. Người ta xếp ổng mâm trên, ổng bảo tôi ngồi đâu cũng ăn được, để chỗ đó cho khách."

"Bà kể tiếp đi bà."

"Có gì mà kể. Ổng ngồi cạnh bà, rót cho bà chén rượu, rồi hỏi bà năm nay mít có sai không."

"Mít nào ạ?"

Bà cụ chỉ ra sân, nơi có mấy gốc mít đang mùa trái sai lúc lỉu.

"Mấy cây kia. Ông nội cháu trồng đó."

"Cháu biết mấy cây đó."

"Ổng cưng lắm. Ổng bảo cây này để dành cho đứa nào biết thương đất, thương người."

Ở bàn trên, câu chuyện càng lúc càng rôm rả.

Thằng Khoa đang khoe với mấy ông khách về chiếc xe mới mua, về chuyện nó sắp mở thêm chi nhánh vật liệu xây dựng.

Anh Hai tôi ngồi cạnh, mặt đỏ gay vì rượu, cười ha hả.

Rồi có tiếng ai đó ở mâm trên nói vọng xuống, đủ to để tôi nghe.

"Nghe nói hồi trước chú Tư có vay mượn khắp nơi làm ăn rồi vỡ nợ, phải trốn lên thành phố. Đúng không anh Hai?"

Cả sân khẽ lặng đi.

Mọi ánh mắt chờ câu trả lời của anh tôi.

"Ừ... thì..." Anh Hai tôi ngập ngừng. "Chuyện lâu rồi, nhắc làm gì."

"Nhưng có đúng không anh?"

"Ừ hử."

Chính cái ừ hử ấy làm tôi đau hơn mọi lời nói móc.

"Đấy, tôi nói có sai đâu."

"Thảo nào mấy chục năm không xây nổi cái nhà."

"Thôi thôi, ăn đi các bác. Chuyện nhà người ta."

Tôi cúi xuống chén cơm.

Không đính chính một câu.

Bởi vì sự thật không phải vậy.

Năm ấy tôi đúng là có vay mượn.

Nhưng không phải để làm ăn cho mình.

Đó là chuyện khác.

Một chuyện mà cả họ này chưa ai từng nghe.

"Sao cháu không cãi lại?"

"Cãi lại thì được gì hả bà?"

"Ít ra người ta biết cháu không phải như thế."

"Bà ơi, khi người ta đã muốn tin điều gì về mình, thì mọi lời giải thích chỉ như đổ nước vào rổ."

"Cháu nói y hệt ông nội cháu."

"Ông nội cháu cũng nói câu đó ạ?"

"Ổng nói khác."

"Ông nói sao hả bà?"

"Ổng bảo: con chó sủa thì cứ để nó sủa, mình đi đường mình."

"Ông cháu nói thô thật."

"Ổng nông dân mà cháu."

"Cháu ăn đi chứ." Bà cụ Bảy giục. "Sao mặt cháu buồn thế?"

"Cháu không buồn đâu bà."

"Người ta nói gì cháu à?"

"Bà lãng tai mà bà cũng nghe được ạ?"

"Bà không nghe được. Bà nhìn mặt cháu bà biết."

"Bà giỏi thật."

"Bà già rồi. Người già chả cần nghe cũng biết."

"Vậy bà nói cháu nghe, bà biết cái gì?"

Bà cụ Bảy nhìn tôi một lúc lâu.

"Bà biết là ông nội cháu thương cháu nhất."

"Sao bà biết ạ?"

"Vì năm nào ổng cũng ngồi đây kể chuyện cháu cho bà nghe. Ổng kể mãi bà thuộc lòng."

"Ông kể cháu cái gì hả bà?"

"Ổng bảo thằng Tư nó đi xa, nhưng nó là đứa duy nhất chịu ngồi nghe ông già này nói hết một câu."

Tôi cúi xuống, và trong túi áo ngực, tôi chạm vào một tờ giấy đã gấp tư, hơi nhàu.

Đó là thứ tôi mang về lần này.

Thứ mà ba năm nay tôi chưa từng cho ai xem.

Thứ mà ông nội, trước khi mất, đã dặn tôi phải giữ cho tới đúng ngày hôm nay.

"Bà Bảy ơi."

"Gì cháu?"

"Bà đừng để người ta chặt mấy cây mít đó nhé."

"Ai chặt?"

"Cháu chưa biết. Nhưng cháu đoán là sắp có người muốn chặt."

Bà cụ nhìn tôi, móm mém cười.

"Cháu nói chuyện y như ông nội cháu."

"Ông cụ mất, không để lại di chúc rõ ràng. Đất hương hoả là của chung dòng họ."

"Bác nói phải."

"Nhưng ai lo hương khói, ai gánh vác nhà thờ họ, thì phải được phần hơn. Lẽ đời nó vậy."

"Bác nói chuẩn quá."

Tiệc tan chừng nửa buổi chiều.

Khách quý lần lượt ra về, anh Hai tôi tiễn ra tận cổng, khom lưng bắt tay, cười tới mang tai.

Chỉ khi cổng khép lại, cái không khí hồ hởi mới lắng xuống, để lộ ra thứ thật hơn.

Trà nước dọn ra.

Người lớn ngồi thành vòng quanh bộ bàn gỗ giữa nhà, mấy người trẻ đứng dựa cột nghe ngóng.

Ai cũng làm ra vẻ thong thả, nhưng không khí căng như dây đàn.

"Bác Năm nói thế thì nhà con được mấy phần ạ?"

"Từ từ đã cháu."

"Con hỏi cho rõ thôi bác. Ba năm nay giỗ chạp nhà con lo, sửa nhà thờ nhà con lo."

"Đúng rồi." Anh Hai tôi gật gù. "Chú Tư thì..."

Anh liếc tôi, bỏ lửng.

"Chú Tư thì đi biệt, có đóng góp gì đâu." Thằng Khoa tiếp lời bố, giọng tỉnh queo.

"Cháu nói thế cũng hơi quá." Có tiếng ai đó ở góc nhà.

"Cháu nói thẳng ấy mà bác. Phần đất đó, ai lo được thì hưởng."

"Ừ thì cũng phải có phần cho chú nó chứ."

"Có chứ ạ. Bán đi chia ra, chú lấy chút gọi là. Còn lại nhà cháu lo hương khói."

"Chú Tư nghèo, có về ở quê đâu mà đòi phần." Có người phụ hoạ.

Cả gian nhà im lặng một thoáng.

Mọi ánh mắt dồn về phía tôi, dò xét.

Có người chờ tôi nổi giận.

Có người chờ tôi khóc lóc kể khổ, van xin.

Tôi rót thêm trà, nhấp một ngụm.

"Các bác, các anh cứ bàn. Tôi không tranh giành gì đâu."

"Đấy!" Bác Năm gật gù. "Chú Tư biết điều là tốt."

"Vâng."

"Người nghèo thì phải biết phận. Đừng như mấy đứa cứ tưởng máu mủ là đòi ngang phần với người ta được."

"Bác nói phải ạ."

"Chú thấy tôi nói phải chỗ nào?"

"Chỗ biết phận ấy bác. Cháu đang nghĩ xem phận cháu ở đâu."

"Thì phận chú là..." Bác Năm khựng lại. "Thôi, tôi nói chung chung."

Mảnh đất mà cả họ đang bàn là mảnh đất hương hoả gần một mẫu, nằm ngay mặt đường liên xã.

Ba năm trước, khi ông mất, đất còn rẻ, chẳng ai ngó ngàng.

Hai năm nay đường được mở rộng, người ta rục rịch quy hoạch khu dân cư, giá vọt lên gấp mấy chục lần.

Giờ nó đáng cả chục tỷ.

Và thế là cả họ về đông hơn mọi năm.

Trong túi áo, tờ giấy gấp tư vẫn nằm im.

Tôi biết chưa đến lúc.

Nhưng có một chuyện, ngay lúc này, tôi phải hỏi.

"Bác Năm."

"Gì chú?"

"Cháu nghe nói mấy năm nay nhà thờ họ sửa lại khang trang."

"Ừ, khang trang lắm. Chú chưa ra xem à?"

"Cháu ra rồi. Tiền sửa là ai lo hả bác?"

"Thì anh Hai cháu với cả họ góp vào chứ ai."

"Góp được bao nhiêu ạ?"

"Chú hỏi làm gì?"

"Cháu hỏi cho biết thôi."

"Thì... tôi cũng không nhớ rõ con số."

"Bác không nhớ hay không có?"

"Chú này!" Anh Hai tôi cau mày. "Chú hỏi gì mà hỏi lắm thế."

"Em hỏi thêm một câu nữa thôi anh."

"Hỏi đi."

"Khoản tiền lo hậu sự cho bà cô Ba năm ngoái, là ai lo ạ?"

Cả gian nhà chững lại.

"Thì... quỹ dòng họ."

"Còn tiền chữa bệnh cho chú Bảy hồi ổng nằm viện?"

"Cũng quỹ."

"Còn học phí cho hai đứa con nhà cô Út đang học đại học trên thành phố?"

"Chú hỏi mấy cái đó làm gì?" Anh Hai tôi gắt. "Chuyện ai nhà nấy lo. Đang bàn chuyện đất mà."

"Vâng, em xin lỗi anh."

Nhưng ở góc nhà, chú Bảy — người vừa được nhắc tới — bỗng ngước lên nhìn tôi.

"Tư à."

"Dạ chú."

"Cháu... cháu hỏi cái đó làm gì?"

"Cháu hỏi vu vơ thôi chú."

"Cái quỹ đó..."

"Chú nói gì cơ ạ?"

Chú Bảy mở miệng, rồi lại thôi.

Cô Út ngồi bên cạnh cũng khẽ liếc tôi, gương mặt thoáng chút bối rối.

Tôi thấy hết những ánh mắt ấy.

Nhưng tôi không nói ra lúc này.

Nói ra bây giờ, giữa lúc người ta đang cân đo mảnh đất, thì hoá ra tôi kể công để đòi phần.

Cái nghĩa mà đem ra mặc cả thì còn gì là nghĩa.

"Cháu hỏi vậy thôi ạ." Tôi mỉm cười. "Chuyện dòng họ, có nhiều thứ không phải cứ nhìn bề ngoài mà biết được đâu bác."

"Chú Tư này." Thằng Khoa bật cười, cắt ngang. "Chú nghèo rớt mà nói chuyện đạo lý nghe hay ghê."

"Cháu thấy chú nói dở à?"

"Không dở. Nhưng vô ích."

"Vô ích chỗ nào cháu?"

"Đói ăn rau đau uống thuốc, chú lo cái thân chú trước đi. Chuyện dòng họ để người có tiền lo."

"Người có tiền." Tôi lặp lại. "Cháu nói câu đó lần thứ mấy trong hôm nay rồi nhỉ?"

"Chú đếm làm gì?"

"Chú không đếm. Chú nhớ thôi."

"Chú nhớ để làm gì?"

"Để sau này còn nhắc lại cho cháu nghe."

Thằng Khoa nhếch mép, không đáp.

"Thôi." Bác Năm đứng dậy, phủi tay. "Chuyện đất, mai kia làm giấy tờ, thuê người về đo đạc rồi tính. Hôm nay giỗ chạp, không bàn nữa."

"Vâng bác."

"Chú Tư biết điều là được rồi. Nhà mình hoà thuận là chính."

"Bác Năm."

"Gì nữa chú?"

"Bác vừa nói hoà thuận."

"Ừ thì hoà thuận. Chú không thích à?"

"Cháu thích chứ. Cháu chỉ hỏi bác một câu."

"Hỏi đi."

"Hoà thuận nghĩa là ai phải nhường ai ạ?"

"Chú hỏi vặn tôi đấy à?"

"Cháu hỏi thật lòng."

"Thì... ai rộng lượng hơn thì nhường."

"Vâng. Cháu nhớ rồi ạ."

"Chú nhớ để làm gì?"

"Để mai kia nếu có ai bảo cháu tham, cháu còn nhắc lại câu bác vừa nói."

Bác Năm nhìn tôi hơi lâu, rồi quay đi, không nói gì thêm.

Hoà thuận.

Cái từ ấy, trong miệng những người vừa xếp tôi xuống mâm dưới rồi định gạt tôi khỏi phần đất tổ tiên, nghe sao mà chua chát.

Người yếu thế luôn bị đòi hỏi phải hy sinh, nhân danh sự êm ấm của kẻ mạnh.

Tôi đứng dậy, ra sân.

Chiều đã ngả.

Nắng vàng như mật rót xuống mấy gốc mít.

"Cậu Tư còn tiếc mấy cây mít này à?"

Chị dâu tôi từ trong nhà bước ra.

"Em nhìn thôi chị."

"Nhìn làm gì. Mai mốt làm giấy đất xong, tôi bảo thằng Khoa thuê người chặt hết."

"Chặt hết ạ?"

"Ừ, cho rộng sân. Mấy cây già rồi, giữ làm gì."

"Cây này ông nội trồng chị ạ."

"Ông nội trồng thì cũng là cây thôi. Ổng mất ba năm rồi."

"Chị đừng vội chặt."

"Sao?"

"Biết đâu dưới mấy gốc cây này lại có thứ đáng giá hơn cả mảnh đất mặt đường kia."

Chị dâu tôi khựng lại, nhìn tôi như nhìn một kẻ nói mơ.

Rồi chị bật cười, lắc đầu bỏ vào nhà.

"Cậu Tư đúng là nghèo tới mức lú lẫn rồi."

Tôi không giận.

Tôi chỉ đặt tay lên thân cây sần sùi, mát lạnh.

Dưới gốc cây này, ba năm trước, chính tay tôi đã chôn một chiếc hộp sắt nhỏ.

Cái ngày ấy, trời cũng ngả chiều như hôm nay.

Ông đã yếu lắm, nhưng nhất định đòi tôi cõng ông ra tận đây.

"Đặt ông xuống chỗ này."

"Ông ngồi được không ạ?"

"Được. Đào đi con."

"Đào sâu bao nhiêu hả ông?"

"Hai gang tay. Đừng sâu quá, mai kia con đào lại cho dễ."

"Ông chôn cái gì trong này?"

"Con đừng hỏi."

"Ông nói con nghe đi."

"Chưa phải lúc."

"Vậy khi nào là lúc ạ?"

Ông nội ngồi trên chiếc ghế nhựa tôi kê tạm dưới gốc mít, hai tay chống lên gậy, nhìn ra phía con đường liên xã còn là đường đất.

"Đất này rồi sẽ có ngày dậy sóng, con ạ."

"Sao ông biết?"

"Ông sống gần hết đời, ông nhìn ra hết. Đứa nào thương thật, đứa nào chỉ thương cái ông để lại, ông biết cả."

"Ông ơi."

"Ừ."

"Con không tranh với anh Hai đâu."

"Ông biết. Nên ông mới giao con."

"Vậy ông dặn con phải làm gì?"

"Con giữ cái hộp. Đừng vội mở."

"Đợi đến bao giờ hả ông?"

"Đợi đến khi nào người ta quên mất con là ai."

"Người ta quên rồi ông ạ."

"Chưa đâu. Đợi đến khi nào người ta khinh con nhất, thì con mở ra."

"Con mở ra để làm gì?"

"Không phải để trả đũa."

"Vậy để làm gì ông?"

"Để cả nhà này nhìn lại, mà thương nhau cho đúng."

Ông nội nắm tay tôi.

Bàn tay ông lúc ấy đã lạnh, nhưng cái nắm thì chặt.

"Con hứa với ông."

"Con hứa."

"Còn một điều nữa."

"Ông nói đi ạ."

"Con giữ cái hộp, giữ cả cái tâm. Đừng để lòng tham của người khác làm hỏng lòng con."

Ba tháng sau ông mất.

Giờ đứng đây, tay chạm vào thân cây ông trồng, tôi như nghe lại được cả giọng ông.

Mấy cây mít này, với cả họ chỉ là gỗ củi chiếm đất.

Với tôi, chúng là chứng nhân cho một lời hứa.

Tôi ngước nhìn tán lá xanh rợp trên đầu.

Sắp đến lúc rồi, ông ạ.

"Chú Tư định nói gì? Đổi ý rồi à? Muốn đòi phần hả chú?"

"Không. Tôi không đòi gì."

"Vậy chú đứng dậy làm gì?"

"Tôi muốn làm trọn một lời dặn của ông nội, trước khi cả họ quyết chuyện đất."

"Lời dặn gì?"

"Cháu ngồi xuống đã, rồi chú nói."

Sáng hôm sau, cả họ lại tụ về nhà anh Hai.

Lần này không phải để ăn giỗ, mà để bàn dứt điểm chuyện đất.

Bác Năm đã mời sẵn một người quen làm ở phòng địa chính xã, mang theo bản đồ, sổ sách.

Trên bàn trải tấm bản đồ thửa đất, có người còn mang cả máy tính, gõ lạch cạch tính xem một mét vuông mặt đường giờ bao nhiêu.

Máu mủ ruột thịt, mà ngồi với nhau như đang chia một món hời.

"Chú Tư có ý kiến gì thì nói nhanh, mọi người còn bàn việc." Bác Năm sốt ruột.

"Cháu xin năm phút thôi bác."

"Năm phút thì được."

Tôi rút từ túi áo ngực ra tờ giấy gấp tư đã ngả màu.

Rồi tôi bước ra sân, cầm theo cái xẻng nhỏ đã chuẩn bị sẵn từ sáng.

"Ơ, chú đi đâu đấy?"

"Ra gốc mít."

"Ra gốc mít làm gì?"

"Đào."

"Đào cái gì cơ?"

"Cháu ra xem thì biết."

Cả họ ngơ ngác nhìn theo, rồi kéo nhau ra sân.

"Chú Tư điên rồi hay sao mà đào bới ở đây?" Thằng Khoa cau mày. "Đang bàn chuyện đàng hoàng, chú giở trò gì vậy?"

"Cháu chờ một chút."

"Chú đào tìm vàng à?"

"Không phải vàng."

"Vậy tìm gì?"

"Cháu chờ đi rồi biết."

"Tôi bảo này." Có tiếng ai đó sau lưng. "Túng quá hoá lẩn thẩn rồi."

"Suỵt, để nó đào."

Tôi cắm xẻng xuống nền đất mềm dưới tán mít.

Đám đông vây quanh, kẻ tò mò, người khó chịu.

Chỉ chừng hai gang tay, lưỡi xẻng chạm vào một vật cứng.

Có tiếng keng khô khốc.

Cả đám đang xì xào bỗng im bặt.

Tôi khom xuống, dùng tay gạt lớp đất còn lại.

Một chiếc hộp sắt cũ, hoen gỉ, hiện ra.

"Cái gì thế?"

"Hộp sắt."

"Của ai?"

"Của ông nội."

"Ông nội chôn hộp sắt ở đây từ bao giờ?"

"Ba năm trước."

"Ai chôn?"

"Cháu chôn."

Bản lề kêu ken két vì lâu ngày.

Bên trong là một cuốn sổ bìa da đã sờn, và một xấp giấy tờ bọc kỹ trong túi ni lông chống ẩm.

"Cái sổ này..." Anh Hai tôi nhoài người tới. "Cái sổ ông cụ vẫn kè kè bên mình?"

"Đúng cái sổ đó anh."

"Sao nó lại ở đây?"

"Ông giao em giữ."

"Chú giữ cái này làm gì?" Bác Năm nhíu mày. "Sao không đưa ra sớm?"

"Vì ông dặn cháu phải đợi."

"Đợi cái gì?"

"Đợi đến giỗ thứ ba, khi cả họ ngồi lại đông đủ để bàn chuyện đất."

"Đợi rồi thì sao?"

"Thì mở."

Tôi mở cuốn sổ.

Bàn tay tôi hơi run khi lật những trang đầu.

Không phải vì hồi hộp.

Vì đây là lần đầu tiên sau ba năm, tôi lại được nhìn nét chữ của ông.

"Cháu đọc lên cho cả họ nghe được không ạ?"

"Đọc đi."

Tôi đọc.

"Ngày mùng bốn tháng Giêng. Cho thằng Bảy vay hai trăm triệu chữa bệnh. Không lấy lãi. Dặn thằng Tư đứng ra lo, đừng cho ai biết là tiền của nó."

Chú Bảy ngồi ở góc sân bật dậy.

"Cái... cái gì cơ?"

"Chú ngồi xuống đã."

"Tiền viện phí của tôi năm ngoái... là..."

"Là của cháu lo, chú ạ."

"Không thể nào."

"Chú nằm viện gần hai tháng. Cháu chuyển tiền về, nhờ cô y tá trực lo, không để chú biết."

"Sao cháu không nói với chú?"

"Vì cháu sợ chú ngại."

"Nhưng ông cụ mất rồi mà..."

"Ông mất rồi. Nhưng lời ông dặn thì cháu vẫn giữ."

Chú Bảy đứng đó, đôi tay gân guốc run run.

Năm ngoái ai cũng bảo ca ấy khó qua.

Rồi bỗng dưng viện phí có người lo hết, chú cứ đinh ninh là nhờ cái quỹ chung của dòng họ mà bác Năm vẫn hay nhắc.

Giờ chú mới biết cái quỹ ấy có gương mặt.

Và gương mặt ấy, hôm qua, còn ngồi mâm dưới.

Cả sân lặng ngắt.

Tôi lật sang trang khác.

"Cô Út nhà có hai đứa con học đại học, khó khăn. Thằng Tư nói nó lo học phí cho tới khi tụi nhỏ ra trường. Ghi lại để sau này con cháu biết mà thương nhau."

Cô Út bưng mặt.

"Cậu Tư ơi..."

"Cô đừng khóc."

"Hai đứa nhà tôi... bao năm nay tôi cứ tưởng..."

"Cô tưởng gì ạ?"

"Tưởng có cái quỹ khuyến học của dòng họ."

"Không có quỹ nào đâu cô."

"Vậy là..."

"Vậy thôi cô ạ. Cô đừng nói nữa."

Tôi lật sang trang tiếp.

"Tiền sửa nhà thờ họ năm kia, hết bốn trăm triệu. Con cháu góp được hơn năm chục. Còn lại thằng Tư bù vào, dặn ghi là tiền công đức chung, đừng nêu tên nó."

Anh Hai tôi đứng chết lặng.

"Bốn trăm triệu?"

"Vâng anh."

"Con cháu góp năm chục?"

"Năm mươi ba triệu bốn."

"Còn ba trăm bốn mươi sáu triệu sáu..."

"Anh tính nhanh thật."

"Chú..."

"Anh nói đi."

"Ba năm nay anh đi khắp làng, anh bảo nhà anh lo sửa nhà thờ họ."

"Em biết."

"Chú biết mà chú không nói gì?"

"Em nói ra thì được gì hả anh?"

"Nhưng người ta khen anh! Người ta bảo anh là đứa gánh vác hương khói!"

"Thì anh gánh thật mà. Anh ở quê, anh lo công. Em ở xa, em chỉ lo được tiền."

Gương mặt anh hết đỏ lại tái, đôi môi mấp máy mà không thốt nên lời.

Tôi nhìn anh, lòng chẳng có chút hả hê nào.

Chỉ thấy thương.

"Không thể nào." Thằng Khoa lắp bắp. "Chú... chú lấy đâu ra tiền? Chú nghèo mà..."

Tôi gấp cuốn sổ lại, nhìn thẳng vào thằng cháu.

"Chú chưa từng nói chú nghèo."

"Nhưng..."

"Là các cháu tự nghĩ vậy."

"Chú đi xe máy cũ, chú đi dép nhựa..."

"Ừ."

"Chú mặc áo bạc màu..."

"Ừ."

"Vậy chú có gì?"

"Hai mươi năm trước chú rời làng, đúng là tay trắng thật."

"Rồi sao ạ?"

"Chú lên thành phố làm thuê, làm phụ hồ, ngủ gầm cầu thang khu trọ. Rồi chú mở một cái xưởng cơ khí ba người thợ."

"Rồi?"

"Rồi xưởng thành công ty."

"Công ty gì hả chú?"

"Giờ chú có ba nhà máy, hơn năm trăm công nhân, làm hàng xuất khẩu đi mấy nước."

Không ai nói được lời nào.

Bác Năm — người hôm qua còn dạy tôi "người nghèo phải biết phận" — ngồi đó, miệng há ra mà không thành tiếng.

"Chú Tư." Bác Năm cuối cùng cũng cất được tiếng. "Sao chú không nói?"

"Bác hỏi thật hay bác hỏi cho có?"

"Tôi hỏi thật."

"Vì cháu về quê không phải để khoe bác ạ."

"Nhưng chú để cả họ cười chú mấy chục năm!"

"Vâng."

"Chú không thấy ức à?"

"Có chứ bác. Ức lắm."

"Ức mà chú vẫn về?"

"Năm nào cháu cũng về."

"Sao chú vẫn về?"

"Vì ông nội cháu nằm ở đây."

"Chú về mà không ai mời chú lên mâm trên lần nào?"

"Một lần bác ạ."

"Ai mời?"

"Ông nội cháu. Ông kéo ghế ông xuống, ngồi cạnh cháu ở mâm dưới."

Bác Năm im.

"Vậy sao chú chịu để người ta nói mấy chục năm?"

"Vì cháu muốn biết một điều."

"Điều gì?"

"Khi cháu không có gì trong tay, thì ai còn thương cháu thật lòng."

Cả sân cúi đầu.

Không ai dám nhìn thẳng vào tôi.

"Và hôm qua," tôi nói, "các bác các cháu đã cho cháu câu trả lời rồi."

Bác Năm ho khan mấy tiếng, tay mân mê chén trà đã nguội.

Chị dâu tôi ngồi sụp xuống ghế, tay bịt miệng.

Còn thằng Khoa thì đứng như trời trồng.

Sợi dây chuyền vàng trên cổ nó, sáng qua còn lấp lánh vẻ tự đắc, giờ bỗng trở nên lố bịch.

Tôi không nói thêm câu nào để dồn ai vào chân tường.

Tôi chỉ lật giở cuốn sổ đến trang cuối cùng, nơi ông nội viết một dòng ngắn.

"Cháu đọc nốt dòng này rồi thôi ạ."

"Chú đọc đi."

"Tiền của cho đi rồi thì thôi, đừng nhắc lại. Nhắc lại là đòi ơn. Ông ghi đây chỉ để một ngày con cháu biết thương nhau, chứ không phải để thằng Tư kể công."

Tôi gấp sổ lại.

Đó là cách ông nội, dù đã khuất, vẫn dạy cả họ này một bài học.

"Còn cái túi ni lông kia là gì hả chú?" Thằng Khoa hỏi, giọng đã khác hẳn.

"Giấy tờ."

"Giấy tờ gì ạ?"

Tôi mở túi, lấy ra xấp giấy cuối cùng.

Một bản di nguyện có công chứng.

Và một tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

"Cái này liên quan tới mảnh đất mà cả họ đang tranh nhau chia."

Cả sân nín thở.

"Ba năm trước, khi đất còn rẻ, chẳng ai ngó ngàng, ông nội sợ sau này con cháu bán tống bán tháo đất tổ tiên."

"Rồi ông làm gì?"

"Ông sang tên toàn bộ mảnh đất cho một người."

"Sang tên?!"

"Kèm điều kiện: người đó không được bán, phải giữ đất làm nơi thờ tự dòng họ đời đời."

"Ông sang tên cho ai?" Bác Năm hỏi, giọng khản đặc.

Tôi đặt tờ giấy lên bàn thờ.

"Chính là tôi."

"Không thể được! Sao ông nội lại sang tên cho chú?"

"Cháu bình tĩnh."

"Đất hương hoả là của cả họ! Chú làm giả giấy tờ à?"

"Cháu nói lại câu đó lần nữa xem."

"Cháu... cháu nói là..."

"Cháu vừa bảo chú làm giả giấy tờ. Ở đây có mấy chục người nghe."

Thằng Khoa lùi nửa bước.

Tôi không nổi giận.

Tôi chỉ đẩy tờ giấy chứng nhận và bản di nguyện về phía người công chứng viên mà bác Năm mời tới.

"Anh xem giúp tôi."

"Vâng, để tôi xem."

"Thật hay giả, anh là người trong nghề, anh biết."

Người ấy cầm lên, xem kỹ từng con dấu, từng chữ ký.

Cả sân không ai thở mạnh.

"Sao rồi anh?" Bác Năm sốt ruột.

"Giấy tờ hợp lệ ạ."

"Anh chắc chứ?"

"Có công chứng, có đăng ký sang tên từ ba năm trước."

"Nghĩa là..."

"Nghĩa là mảnh đất này, về pháp lý, đã thuộc quyền sử dụng của ông Tư từ lâu rồi."

Bác Năm ngồi phịch xuống ghế.

Anh Hai tôi mặt trắng bệch.

Cả họ, những người sáng nay còn xúm vào chia phần một mảnh đất chục tỷ, giờ mới hiểu ra: mảnh đất ấy, từ ba năm nay, chưa từng là của họ.

"Cậu Tư ơi..." Cô Út run run. "Vậy giờ... cậu tính sao?"

"Cô hỏi gì cơ?"

"Cậu... cậu định đuổi chúng tôi à?"

"Cô nghĩ tôi định đuổi ai?"

"Thì... với những gì hôm qua..."

"Cô ngồi xuống đã."

"Mấy đứa nhà tôi còn học phí, tôi..."

"Cô Út."

"Dạ."

"Học phí của hai đứa nhỏ, tôi lo tiếp cho tới khi tụi nó ra trường, như đã hứa với ông nội."

"Nhưng mà..."

"Chuyện đó không liên quan gì tới đất cát."

"Tôi... tôi không dám nhận nữa."

"Cô nhận đi. Tôi giúp là vì tụi nhỏ là con cháu trong nhà, không phải vì tôi muốn đổi lấy điều gì."

Cô Út bật khóc.

Tôi cầm tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặt trang trọng lên bàn thờ ông nội, thắp ba nén nhang, rồi quay xuống.

"Cả họ nghe tôi nói một câu."

"Chú cứ nói."

"Ông nội sang tên đất cho tôi, không phải để tôi độc chiếm."

"Vậy để làm gì?"

"Vì ông tin tôi sẽ giữ được đất tổ tiên, không để nó bị bán đi vì đồng tiền."

"Rồi chú tính sao với nó?"

"Hôm nay, trước bàn thờ ông, tôi tuyên bố: mảnh đất này sẽ mãi là đất hương hoả của dòng họ."

"Nghĩa là không bán?"

"Không ai được bán. Kể cả tôi."

"Còn xây gì trên đó không chú?"

"Tôi sẽ bỏ tiền xây một nhà thờ họ khang trang. Phía sau là một khu nhà cho những người già trong họ không nơi nương tựa về ở."

"Chú nói thật à?"

"Ai khó khăn, cứ về đây. Đất tổ tiên là của chung, không của riêng ai."

Cả sân lặng đi.

Rồi chú Bảy đứng dậy, đôi mắt già nua đỏ hoe.

Chú bước tới, nắm chặt tay tôi.

"Tư à..."

"Dạ chú."

"Chú xin lỗi cháu."

"Chú đừng nói vậy."

"Bao năm nay chú cũng nghĩ cháu là đứa thất bại."

"Chú nghĩ vậy cũng phải thôi."

"Chú có mắt như mù."

"Chú ngồi xuống đi chú."

"Hôm qua chú ngồi đó, chú nghe người ta nói cháu, chú không nói được một câu."

"Cháu không trách ai cả."

"Sao cháu không trách?"

"Vì ông nội dặn cháu, mở tờ giấy này ra không phải để trả đũa. Mà để cả nhà nhìn lại nhau, mà thương cho đúng."

Chú Bảy siết tay tôi thêm một cái, rồi ngồi xuống, quay mặt đi.

Anh Hai tôi từ nãy vẫn ngồi im.

Giờ anh mới đứng lên.

"Chú Tư."

"Dạ anh."

"Anh..."

"Anh nói đi."

"Anh xin lỗi chú."

"Anh xin lỗi em cái gì?"

"Hôm qua anh để người ta xếp chú xuống mâm dưới."

"Chuyện mâm trên mâm dưới, có đáng gì đâu anh."

"Anh không bênh chú một câu."

"Em biết."

"Chú biết mà chú vẫn ngồi xuống đó?"

"Em ngồi xuống vì em không muốn anh khó xử trước mặt khách."

Anh Hai tôi đứng đó, hai vai run run.

Người đàn ông hơn tôi năm tuổi, cả đời sống theo cái thước đo nhà cao xe đẹp.

"Anh..."

"Anh Hai."

"Ừ."

"Anh còn nhớ hôm em đi không?"

"Nhớ."

"Anh dúi vào tay em bao nhiêu?"

"Anh... anh không nhớ."

"Ba trăm hai mươi nghìn. Anh gói trong tờ giấy báo."

"Chú nhớ kỹ thế à?"

"Em nhớ vì đó là toàn bộ tiền anh có lúc đó."

Anh Hai tôi bưng mặt.

"Anh còn dặn em một câu."

"Anh dặn gì?"

"Ráng làm ăn, đừng để người ta cười nhà mình."

"Anh..."

"Em làm được rồi anh ạ. Chỉ là em quên báo anh biết."

Anh Hai tôi bất ngờ ôm chầm lấy tôi.

Người anh cả cứng cỏi của tôi, lần đầu tiên trong đời, khóc như một đứa trẻ.

"Cảm ơn chú... cảm ơn chú, Tư..."

"Anh em mình còn có nhau là quý rồi anh ạ."

"Anh có lỗi với chú."

"Ông bà mất cả, giờ trong nhà chỉ còn hai anh em. Mình mà không thương nhau thì còn ai."

Thằng Khoa đứng nép vào một góc, mặt cúi gằm.

"Chú Tư..."

"Gì cháu?"

"Con... con xin lỗi chú."

"Chú không cần cháu xin lỗi."

"Vậy chú cần gì ạ?"

"Chú chỉ hỏi cháu một câu."

"Chú hỏi đi."

"Hôm qua cháu bảo chú ngồi mâm dưới. Cháu nhìn vào cái gì mà cháu quyết định như vậy?"

"Con... con nhìn cái xe chú đi."

"Còn gì nữa?"

"Đôi dép chú đi. Cái áo chú mặc."

"Cháu có nhìn cái gì khác không?"

"Không ạ."

"Cháu có hỏi chú câu nào không?"

"Con không hỏi."

"Đấy. Cháu nhớ lấy chỗ đó."

"Con nhớ rồi chú."

"Đừng bao giờ đo giá trị một con người bằng cái áo họ mặc, cái xe họ đi."

"Vâng."

"Có những người mặc áo cũ, đi dép mòn, mà gánh trên vai cả một dòng họ không nói một lời."

"Con hiểu rồi ạ."

"Chưa đâu. Nhưng rồi cháu sẽ hiểu."

Thằng Khoa gật đầu, hai mắt đỏ hoe.

Tôi không thấy hả hê.

Tôi chỉ thấy thương.

Bởi nó cũng chỉ là sản phẩm của cái nếp nghĩ mà cả làng này đang nhiễm phải.

Bác Năm, người lớn tuổi nhất, chậm rãi đứng dậy.

Bác chắp tay xá về phía bàn thờ ông nội, rồi quay sang tôi.

"Chú Tư."

"Dạ bác."

"Anh già rồi mà còn hồ đồ."

"Bác đừng nói vậy."

"Anh xin lỗi chú."

"Bác là bậc trên, cháu không dám nhận đâu ạ."

"Ông cụ nhà mình sáng suốt. Còn tụi anh thì mờ mắt vì mấy đồng bạc."

"Bác đừng nói vậy. Cháu có bụng dạ nào đâu."

Buổi chiều hôm ấy, cả họ ngồi lại với nhau, nhưng không phải để chia đất.

Mà để nghe tôi kể về ông nội.

"Chú kể tiếp đi chú."

"Ông hay ngồi ngoài hiên, pha một ấm trà, rót ra hai chén."

"Hai chén để làm gì?"

"Một cho ông, một cho tôi. Dù tôi chẳng mấy khi uống hết."

"Ông kể chuyện gì hả chú?"

"Ông kể chuyện dòng họ mình từng có thời cơ hàn. Chuyện cụ cố nhường cả gánh gạo cuối cùng cho người anh em họ đang đói."

"Rồi ông có dặn gì không?"

"Ông bảo: cái gốc nhà mình là cái tình, con ạ."

"Ông nói đúng thật."

"Hồi ấy tôi còn trẻ, nghe tai này lọt tai kia."

"Giờ chú nghĩ sao?"

"Giờ tôi mới hiểu ông đúng đến nhường nào."

Nghe tới đâu, người ta lặng đi tới đó.

Có cô, có bác lén quay đi lau nước mắt.

"Ông cụ sáng suốt thật." Bà cụ Bảy lãng tai, người hôm qua ngồi cùng mâm dưới với tôi, móm mém cười. "Ổng biết chọn mặt gửi vàng."

"Bà nghe được hết à bà?"

"Bà lãng tai chứ có mù đâu."

"Bà thấy gì hả bà?"

"Bà thấy hôm nay không ai bắt bà ngồi sau bếp nữa."

Trước khi ra về, tôi đưa cho anh Hai một phong bì.

"Chú làm gì thế?"

"Anh cầm đi."

"Anh không nhận đâu."

"Đây là phần em góp lo giỗ ông sang năm, với sửa lại phần mộ tổ tiên."

"Chú đã lo nhiều rồi."

"Từ nay mọi việc dòng họ, anh em mình cùng lo."

"Cùng thế nào?"

"Em có điều kiện thì em lo tiền. Anh ở quê thì anh lo công. Được không anh?"

Anh Hai tôi cầm phong bì, tay run run, gật đầu mà không nói được câu nào.

"Còn một việc nữa anh ạ."

"Việc gì chú?"

"Mấy gốc mít, anh đừng cho chặt."

"Anh không chặt đâu."

"Chị nhà anh hôm qua bảo sẽ thuê người..."

"Anh nói với nhà anh rồi."

"Anh nói sao?"

"Anh bảo: mấy cây đó là của ông cụ, ai chặt thì bước qua xác tôi."

Tôi bật cười.

Lần đầu tiên trong hai ngày.

Ngoài sân, nắng chiều vàng như mật.

Ba nén nhang trên bàn thờ ông nội đã cháy gần hết, làn khói mỏng bay lên.

Tôi ngước nhìn lên di ảnh ông.

Con làm xong rồi, ông ạ.

Không phải để cho ai biết con giàu hay nghèo.

Mà để cả nhà mình, sau bao năm, lại biết ngồi xuống bên nhau.

Đám giỗ năm sau, tôi vẫn ngồi mâm dưới.

Nhưng lần này thì khác.

Lần này bà cụ Bảy ngồi bên trái tôi, chú Bảy ngồi bên phải, anh Hai kéo ghế xuống ngồi đối diện, và thằng Khoa bưng nồi canh từ bếp ra đặt giữa bàn.

"Chú Tư ơi."

"Gì cháu?"

"Mâm trên còn trống mấy ghế, chú lên không?"

"Chú ngồi đây được rồi."

"Sao chú không lên?"

"Vì ông nội cháu cũng ngồi đây."

Thằng Khoa đứng im một lúc, rồi nó kéo cái ghế nhựa, ngồi xuống cạnh tôi.

Nhiều năm sau, mảnh đất ấy mọc lên một nhà thờ họ khang trang, phía sau là dãy nhà nhỏ ấm cúng cho những người già trong họ về nương náu tuổi xế chiều.

Mấy gốc mít ông nội trồng vẫn đứng đó, mỗi mùa lại sai trái.

Đám giỗ hằng năm giờ không còn ai đếm xe, đếm phong bì.

Riêng tôi, mỗi lần về, vẫn đi chiếc xe máy cũ, vẫn mặc bộ đồ giản dị.

Chỉ khác một điều: bây giờ, khi tôi dắt xe vào cổng, đã có người chạy ra mở cổng giúp tôi.

Không phải vì họ biết tôi có ba nhà máy.

Mà vì họ đã nhớ ra tôi là em, là chú, là cháu của họ.

Và với tôi, đó mới là gia tài lớn nhất mà ông nội để lại.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp