Halab
Sáu năm một mình chăm bà nội đau yếu, ngày bà mất cả họ kéo về đuổi tôi ra khỏi nhà
Truyện

Sáu năm một mình chăm bà nội đau yếu, ngày bà mất cả họ kéo về đuổi tôi ra khỏi nhà

· 30 phút đọc · Halab

"Con ranh này, mày ở lì trong nhà bà mấy năm nay là để rắp tâm chiếm cái nhà này chứ gì. Giờ bà mất rồi, mày liệu mà cuốn gói đi cho khuất mắt."

"Bác nói to quá bác ơi. Bà còn nằm đây."

"Tao cố tình nói to."

"Để làm gì ạ?"

"Để cả xóm nghe. Để sau này không đứa nào bảo tao giấu giếm."

"Anh ơi, xe em đỗ ngoài ngõ có sao không?" Có tiếng gọi vọng vào từ sân.

"Đỗ sát vào. Lát xe cô Hường về nữa."

"Cô Hường đi ô tô à anh?"

"Con xe trắng bốn chỗ ấy."

"Sang thế."

"Chú vào đi, đứng đấy làm gì."

Hương trên bàn thờ bà chưa tàn hết nén đầu tiên.

Tôi đứng bên chiếc quan tài chưa đậy nắp, tay còn cầm nắm nhang chưa kịp thắp.

"Cháu không định chiếm gì cả ạ." Tôi nói.

"Mày không định chiếm thì mày ở đây làm gì sáu năm?"

"Cháu ở đây chăm bà."

"Chăm bà." Cô Hường bật cười. Cái cười lạnh tanh. "Ai chả biết mày chăm bà là để có ngày hôm nay."

"Cô Hường."

"Không có lợi lộc thì đứa nào rảnh mà bỏ cả tuổi thanh xuân ra hầu một bà già lẫn lộn?"

"Cô vừa gọi bà là gì cơ ạ?"

Cô khựng nửa giây.

"Tao nói thế nào kệ tao."

"Vâng." Tôi gật đầu. "Cháu chỉ hỏi cho rõ thôi ạ."

Cô Hường là con thứ hai của bà.

Cổ đeo dây chuyền vàng, tay xách chiếc túi da bóng loáng.

"Cô ơi." Tôi nói.

"Gì?"

"Cháu hỏi cô một câu được không ạ?"

"Hỏi."

"Đêm mùng bảy tháng ba năm ngoái, bà lên cơn co giật. Cháu gọi cho cô lúc hai giờ sáng."

Cô Hường không đáp.

"Cô có nhớ cô nói gì không ạ?"

"Tao… tao đang ngủ."

"Cô bảo: đang đêm gọi làm gì, sáng mai tính."

"Thì tao đang ngủ thật!"

"Vâng ạ." Tôi nói. "Cháu chỉ nhắc lại thôi. Cháu không trách cô."

Cô Hường lảng mắt đi.

"Con này ăn nói ghê gớm nhỉ." Bác gái đứng cạnh bác cả buông một câu.

"Cháu nói khẽ mà bác."

"Khẽ nhưng mà xóc."

"Nó là con cái nhà ai ấy nhỉ?" Một chị họ tôi chưa gặp bao giờ hỏi vọng ra.

"Con thằng Ba."

"Thằng Ba nào?"

"Thằng Ba chết lâu rồi ấy."

"À." Chị ta gật gù. "Thảo nào."

"Thảo nào cái gì hả chị?" Tôi hỏi.

"Ơ, tôi có nói gì đâu."

"Chị vừa nói thảo nào ạ."

"Con này." Chị ta quay đi. "Đúng là loại ở nhờ mà lại tưởng mình là chủ."

Có tiếng cười khẩy nổi lên đâu đó.

Tôi tên Diệu, hai mươi tư tuổi.

Bố tôi mất năm tôi lên chín.

Mẹ tôi đi thêm bước nữa rồi bặt tin.

Chính căn nhà cấp bốn này, chính bà cụ nằm trong quan tài kia, là người nuôi tôi lớn bằng gánh rau ngoài chợ.

"Thôi." Bác cả khoát tay. "Vào việc. Chú Tài đâu?"

"Em đây anh."

"Chú ra cổng đón khách. Cô Hường gọi thợ ảnh."

"Còn cháu Diệu?" Bác gái hỏi.

"Nó à." Bác cả nhìn tôi. "Nó xuống bếp đun nước."

"Vâng ạ." Tôi nói.

Đến chiều, khách viếng bắt đầu đông.

Bà Tám hàng xóm sang, chống gậy, đi thẳng đến chỗ tôi.

"Diệu."

"Bà Tám."

"Con ăn gì chưa?"

"Cháu chưa ạ."

"Từ sáng đến giờ?"

"Cháu quên ạ."

"Quên cái gì mà quên." Bà dúi vào tay tôi gói xôi. "Ngồi xuống đây ăn. Bà đứng che cho."

"Bà ơi…"

"Ăn đi." Bà hạ giọng. "Con nghe bà nói này."

"Vâng."

"Cả xóm này ai chả biết con hiếu thảo thế nào."

"Cháu biết ạ."

"Mấy người kia họ về đây làm gì, bà biết thừa." Bà Tám nói. "Con cứ vững vàng lên. Đừng để họ ức hiếp."

"Cháu không tranh gì với các bác đâu bà ạ."

"Bà không bảo con tranh." Bà nói. "Bà bảo con đừng để họ ức hiếp. Hai cái đó khác nhau."

Chiều muộn, cô Hường gọi tôi vào buồng trong.

"Diệu."

"Dạ cô."

"Vàng của bà đâu?"

"Vàng nào ạ?"

"Đừng có giả vờ. Bà có mấy chỉ hồi môn, cả họ ai chả biết."

"Cháu không biết ạ."

"Mày ở đây sáu năm mà mày không biết?"

"Cháu chưa bao giờ mở tủ của bà ạ."

"Láo." Cô kéo cánh tủ ra, lục. "Sáu năm ở cạnh mà không mở tủ. Mày nói ai tin."

"Cô cứ tìm ạ."

"Tao tìm đây."

Cô lục hết ngăn này sang ngăn khác.

Áo bà, khăn bà, mấy cái túi ni lông đựng thuốc.

"Đây là gì?" Cô rút ra một xấp giấy.

"Sổ khám bệnh của bà ạ."

Cô liếc qua, ném xuống giường.

"Còn cái này?"

"Hóa đơn viện phí."

"Sao nhiều thế?"

"Sáu năm ạ. Hai mươi ba lần."

Cô Hường cầm xấp hóa đơn lên, lật vài tờ.

Rồi cô đặt xuống, không nói gì.

"Cô tìm thấy vàng chưa ạ?" Tôi hỏi.

"Mày…"

"Cháu hỏi thật lòng. Nếu cô tìm thấy thì cô cứ cầm. Cháu không giữ đâu."

Cô Hường nhìn tôi một lúc lâu.

Rồi cô đi ra, không đóng cánh tủ lại.

Tối hôm ấy, khi khách về gần hết, bác cả và chú Tài đi ăn khuya về, mặt đỏ gay vì hơi men.

Họ ngồi xuống ngay cạnh linh cữu mẹ mình.

"Sáng mai làm ma xong xuôi," bác cả nói oang oang, không thèm hạ giọng, "là anh em mình gọi thợ đến đo đạc luôn."

"Đo sớm thế hả anh?"

"Đo sớm thì biết sớm. Miếng đất này mặt tiền đường lớn, giờ giá cao lắm."

"Được bao nhiêu hả anh?"

"Bán đi chia ba, mỗi đứa cũng được một khoản kha khá."

"Chia ba ạ?"

"Ừ, ba anh em."

"Thế còn con Diệu?"

Bác cả im một nhịp.

"Nó là cháu."

"Cháu thì cũng…"

"Chú im đi." Bác cả gạt. "Việc đó tính sau."

Tôi ngồi trong bóng tối ở góc nhà, tay vẫn cầm nắm nhang.

Họ không biết tôi ngồi đó.

Đêm ấy tôi thức trắng bên quan tài bà.

Họ hàng ai về nhà nấy.

Chỉ còn tôi với ngọn nến leo lét và mùi hương trầm.

Trong cái tĩnh lặng ấy, tôi bỗng nhớ ra một chuyện.

Nửa năm trước, có một buổi chiều bà tỉnh táo lạ thường.

"Diệu ơi."

"Dạ bà."

"Đỡ bà ngồi dậy cái."

"Bà nằm nghỉ đi ạ."

"Bà nằm cả tháng rồi. Đỡ bà dậy."

"Diệu này."

"Dạ bà."

"Bà biết mấy năm nay cháu khổ vì bà."

"Bà đừng nói thế."

"Bà không có gì nhiều." Bà nắm tay tôi. "Nhưng bà có cái tâm."

"Bà nghỉ đi, kẻo mệt."

"Bà đã sắp xếp cả rồi."

"Bà sắp xếp gì cơ ạ?"

"Sau này dù có chuyện gì, cháu cứ nhớ." Bà nói, giọng run mà rành rọt. "Người sống có tình có nghĩa thì trời không phụ."

Lúc ấy tôi chỉ nghĩ bà nói vu vơ như những cụ già gần đất xa trời khác.

"Vâng, cháu nhớ ạ." Tôi cười. "Bà cứ sống với cháu thật lâu là được."

Bà cũng cười.

Rồi bà nắm chặt tay tôi thêm một lần nữa.

"Cái hòm gỗ dưới gầm giường."

"Dạ?"

"Khi nào cần thì cháu mở ra."

"Cần gì cơ ạ?"

"Cháu cứ nhớ là được." Bà nói. "Nhớ đấy."

Tôi đã quên bẵng câu ấy, giữa bộn bề thuốc thang và cháo loãng.

Chỉ đến đêm nay, ngồi một mình bên bà, nó mới trở lại rõ mồn một.

Cái hòm gỗ dưới gầm giường.

Tôi ngẩng đầu nhìn về phía buồng trong, nơi chiếc giường cũ của bà vẫn còn đó.

Ngoài sân, sương đêm giăng mờ.

Tôi kéo lại tấm khăn tang, ngồi thẳng lưng.

Tôi chưa đứng dậy.

Chưa phải lúc.

"Cái hộp tiền phúng đưa đây tôi giữ."

"Bác giữ làm gì ạ?"

"Để lo chi phí chung."

"Chi phí chung thì cháu ghi sổ được ạ."

"Mày ghi?" Bác cả nhướn mày. "Mày là cái gì trong nhà này mà mày ghi?"

"Cháu là đứa lo cơm nước ba hôm nay ạ."

"Cơm nước thì cứ cơm nước. Tiền để tao."

"Vâng."

Tôi không tranh.

Tôi biết phần lớn khách đến viếng là hàng xóm, là những người suốt sáu năm qua vẫn mang cho bà con cá mớ rau.

Họ đến vì bà, chứ đâu phải vì mấy người họ hàng mới xuất hiện.

Đám tang kéo dài ba ngày.

Ba ngày ấy tôi sống như một cái bóng trong chính căn nhà mình đã ở sáu năm.

Đêm thứ hai, hai giờ sáng, tôi ngồi canh linh cữu một mình.

Bà Tám sang, tay xách cái phích.

"Sao có mình con ngồi đây?"

"Các bác đi nghỉ rồi ạ."

"Nghỉ à?"

"Vâng."

"Thế ban nãy ai bảo với khách là 'đêm nào chúng tôi cũng thức trông mẹ'?"

Tôi không đáp.

"Bác Thịnh nói câu đó lúc bảy giờ tối." Bà Tám nói. "Bà đứng ngay đấy, bà nghe."

"Bà ơi, thôi ạ."

"Thôi cái gì mà thôi." Bà rót nước ra nắp phích, dúi cho tôi. "Uống đi cho ấm."

"Cháu cảm ơn bà."

Bà ngồi xuống cạnh tôi.

"Diệu này."

"Dạ."

"Lúc còn sống bà con cứ nhắc con hoài."

"Bà cháu nhắc gì ạ?"

"Cụ bảo: con Diệu nhà tôi khổ." Bà Tám nói. "Sau này tôi có nhắm mắt cũng không yên tâm để nó bơ vơ."

Tôi cúi xuống.

Cái nắp phích trong tay tôi nóng lên.

"Bà cháu nói câu đó bao giờ ạ?"

"Nhiều lần."

"Lần gần nhất?"

"Chừng nửa năm trước." Bà Tám nghĩ một lúc. "Hôm ấy cụ còn nhờ bà một việc."

"Việc gì hả bà?"

Bà Tám nhìn tôi.

"Cụ dặn bà đừng nói vội."

"Bà ơi…"

"Cụ dặn thì bà nghe cụ." Bà đứng dậy, phủi vạt áo. "Con cứ ngồi đấy với cụ. Đến lúc thì tự khắc con biết."

Chiều hôm hạ huyệt, cả nhà quây quần quanh mâm cơm ở gian giữa.

Chỉ mình tôi dọn dẹp dưới bếp.

Vách bếp mỏng.

Tôi nghe rõ từng câu.

"Con bé đó phải cho nó ra khỏi nhà càng sớm càng tốt." Cô Hường nói.

"Vội thế làm gì." Chú Tài.

"Để nó ở đây lâu nó lại sinh chuyện. Biết đâu nó đã thậm thụt lấy vàng, lấy tiền của bà giấu đi rồi."

"Bà làm gì có vàng."

"Ai bảo chú là bà không có?"

"Thì mấy chỉ hồi môn…"

"Đấy!" Cô Hường hạ giọng. "Mấy chỉ đó giờ đâu? Chú thử hỏi nó xem."

"Thôi." Bác cả cắt ngang. "Tôi tính rồi."

"Anh tính sao?"

"Làm xong tuần đầu cho bà là mình làm giấy tờ."

"Rồi sao nữa?"

"Đất đứng tên bà. Giờ bà mất, con cháu thừa kế. Nó là cháu, đời thứ ba, lại là con thằng Ba đã chết — luật cho nó có phần thế vị."

"Thế là nó có phần thật à?" Chú Tài kêu lên.

"Chú nói bé thôi."

"Vâng."

"Nó có phần, nhưng mình đông người." Bác cả nói. "Mình ép nó ký giấy từ chối là xong. Cho nó vài chục triệu gọi là, rồi đuổi khéo."

"Vài chục triệu là nhiều đấy." Chú Tài càu nhàu.

"Chứ chú định cho bao nhiêu?"

"Cho nó dăm triệu đi xe về quê ngoại là được rồi."

"Dăm triệu ít quá không?"

"Ít gì mà ít. Nó có công cán gì đâu."

Tôi đứng lặng trong bếp, tay nắm chặt cái giẻ lau.

Sáu năm cuộc đời tôi.

Dăm triệu và một tấm vé xe.

Tôi không giận.

Kỳ lạ là tôi không thấy giận.

Tôi chỉ thấy một nỗi buồn mênh mông, buồn cho bà.

Tôi buông cái giẻ, tựa lưng vào tường bếp.

Rồi tôi nhớ đến chiếc hòm gỗ.

Đêm đó, đợi cả nhà ngủ say, tôi lặng lẽ vào buồng trong.

Căn buồng vẫn còn nguyên mùi dầu gió, mùi thuốc bắc.

Chiếc giường gỗ cũ, tấm chăn bà đắp, cái gối bà kê đầu.

Tôi quỳ xuống, thò tay xuống gầm giường.

Đúng như lời bà dặn.

Một chiếc hòm gỗ nhỏ, phủ đầy bụi, đẩy sâu vào trong cùng.

Tôi kéo nó ra.

Hòm không khóa, chỉ cài bằng một cái then gỗ.

Tay tôi run run mở nắp.

Bên trong không có vàng bạc như họ vẫn nghi.

Chỉ có vài thứ bà gói ghém trong mấy lớp vải cũ.

Một xấp giấy tờ bọc trong túi ni lông.

Một cuốn sổ nhỏ bìa đã sờn.

Và trên cùng, một chiếc phong bì dán kín, bên ngoài bà viết nắn nót bằng nét chữ run run của người già:

"Gửi cháu Diệu của bà."

Tôi mở phong bì.

"Diệu ơi. Khi cháu đọc được những dòng này thì chắc bà đã đi xa rồi. Bà không biết chữ nhiều, viết được chừng này là bà nhờ chú Bảy chỉ cho từng chữ, viết cả tuần mới xong.

Bà biết mấy năm nay chỉ có mình cháu ở với bà.

Có lần bà tỉnh dậy thấy cháu ngủ gục bên giường, tay còn cầm khăn lau cho bà, bà thương cháu đứt ruột.

Bà không có nhiều tiền.

Nhưng bà có căn nhà, có mảnh đất này.

Bà ra xã, ra phòng công chứng, làm giấy tờ đàng hoàng, để lại tất cả cho cháu.

Không phải vì bà không thương các con các cháu khác.

Mà vì bà muốn công bằng.

Ai có tình có nghĩa với bà lúc bà khốn khó, thì người đó xứng đáng."

Tôi bụm miệng để không bật thành tiếng.

Tôi lật xem xấp giấy tờ.

Một bản di chúc.

Công chứng đầy đủ, có chữ ký, có dấu đỏ, có cả chữ ký người làm chứng.

Ngày lập cách đây gần một năm — đúng quãng bà còn tỉnh táo.

Di chúc ghi rõ: bà để lại toàn bộ quyền sử dụng căn nhà và mảnh đất cho cháu nội là tôi, kèm một điều kiện duy nhất là tôi phải lo hương khói cho bà và các cụ.

Dưới bản di chúc còn một cuốn sổ tiết kiệm.

Tôi mở ra, đọc con số, rồi phải đọc lại ba lần.

Bên cạnh là một mảnh giấy nhỏ:

"Đây là tiền bà dành dụm cả đời, cộng với tiền bán mấy chỉ vàng hồi môn. Bà giữ cho cháu. Đừng để ai biết vội."

Còn cuốn sổ bìa sờn kia, tôi mở ra và lặng người.

Đó là những dòng bà nhờ chú Bảy ghi hộ.

Ghi tỉ mỉ từng khoản.

"Mùng bốn tháng hai. Con Diệu đưa tôi đi viện ngoài thị trấn. Hết tám trăm ba."

"Rằm tháng tư. Đêm tôi khó thở. Nó thức đến sáng."

"Mùng chín tháng bảy. Nó mua cho tôi hộp sữa. Nó bảo nó ăn sáng rồi. Tôi biết là nó chưa ăn."

Bà đã âm thầm ghi hết.

Như thể bà sợ rằng nếu một ngày không còn ai tin tôi, thì ít nhất những trang giấy này sẽ lên tiếng thay bà.

Ở trang cuối, bà nhờ chú Bảy viết một câu:

"Con Diệu chăm tôi thật lòng, không toan tính. Tôi làm chứng cho nó bằng cả lương tâm một người sắp về với tổ tiên."

Tôi ngồi bệt xuống nền nhà lạnh, ôm chặt lá thư vào lòng.

Sáng hôm sau, tôi sang nhà bà Tám thật sớm.

"Bà ơi."

"Ơ, Diệu. Sao dậy sớm thế con?"

"Cháu hỏi bà một câu."

"Con hỏi đi."

"Cái việc bà cháu nhờ bà nửa năm trước."

Bà Tám đặt cái rổ xuống.

"Con mở hòm rồi à?"

"Cháu mở rồi ạ."

"Ừ." Bà thở ra một hơi dài. "Thế là bà nói được rồi."

"Bà nói cháu nghe với."

"Hôm ấy cụ nhờ bà với chú Bảy đưa cụ ra xã." Bà Tám ngồi xuống. "Cụ đi bằng xe lăn, bà đẩy. Ra đến nơi cụ ngồi trả lời người ta hai tiếng đồng hồ."

"Người ta hỏi gì ạ?"

"Hỏi cụ tên gì, năm nay bao nhiêu tuổi, có mấy người con, tên gì, làm gì, ở đâu."

"Bà cháu trả lời được hết không ạ?"

"Hết." Bà Tám nói. "Không sai một chữ. Cụ còn đọc được cả số sổ đỏ."

"Rồi sao nữa hả bà?"

"Rồi người ta hỏi cụ một câu cuối."

"Câu gì ạ?"

"Người ta hỏi: cụ có bị ai ép buộc gì không."

Tôi ngẩng lên.

"Bà cháu trả lời sao ạ?"

Bà Tám nhìn tôi rất lâu.

"Cụ bảo: tôi tám mươi mốt tuổi rồi, chả ai ép được tôi cái gì. Con bé nó còn không biết tôi đang ngồi đây."

Tôi cúi mặt xuống.

"Bà ơi."

"Ừ?"

"Sao bà cháu không cho cháu biết ạ?"

"Cụ ấy bảo nói ra thì con lại cản."

"Cháu cản làm gì."

"Con không cản à?" Bà Tám nhìn tôi. "Con nghĩ kỹ đi rồi trả lời bà."

Tôi im.

"Đấy." Bà gật đầu. "Cụ ấy biết tính con hơn con biết tính con."

"Cháu chỉ sợ các bác nói bà cháu thiên vị thôi ạ."

"Thì họ nói rồi đấy. Họ nói từ hôm qua."

"Vâng."

"Con có sợ không?"

"Cháu sợ ạ."

"Sợ cái gì?"

"Cháu sợ người ta bảo cháu về đây sáu năm là để đợi cái tờ giấy này."

Bà Tám im một lúc lâu.

"Diệu này."

"Dạ."

"Con có biết cụ ấy sợ đúng cái đó không?"

"Bà cháu sợ ạ?"

"Ừ. Hôm ở xã cụ ấy có hỏi người ta một câu." Bà Tám nói. "Cụ ấy hỏi: tôi cho con bé thì sau này người ta có bảo nó tham không."

"Người ta trả lời sao ạ?"

"Người ta bảo: cái đó thì cháu không biết, nhưng giấy tờ hợp pháp thì không ai lấy được của cháu bà."

"Rồi bà cháu nói gì?"

Bà Tám cười, mắt đỏ hoe.

"Cụ ấy bảo: thế thì tôi ký."

Tôi cúi mặt xuống.

"Con khóc à?"

"Cháu không khóc ạ."

"Ừ." Bà Tám vỗ vai tôi. "Thế thì tốt. Còn phải để dành nước mắt."

"Để dành làm gì hả bà?"

"Còn lâu mới xong đâu con ạ." Bà nói. "Bà nhìn mặt bác Thịnh nhà con hôm qua là bà biết."

Tôi cẩn thận gói lại tất cả như cũ, giấu chiếc hòm vào một chỗ khác an toàn hơn.

Tôi chưa đưa nó ra.

Tôi muốn chờ.

Chờ đến lúc mọi toan tính của họ bày ra hết.

Để sự thật lên tiếng một lần cho trọn.

"Hôm nay tôi mời cả nhà đến đây để thống nhất một việc."

"Anh cứ nói đi anh Thịnh."

"Mẹ mất rồi, để lại căn nhà với mảnh đất này."

"Vâng."

"Theo lẽ thường, anh em chúng tôi ba người con còn sống sẽ chia nhau."

Buổi sáng chủ nhật sau lễ cúng tuần đầu.

Họ gọi đông đủ, ngồi kín cả gian nhà chính.

Tôi được gọi ra ngồi ở một góc, như bị cáo trước tòa.

Bác cả ngồi giữa, trịnh trọng đặt lên bàn một xấp giấy đã chuẩn bị sẵn.

"Còn cháu Diệu đây." Bác đưa mắt nhìn tôi. "Tuy là cháu, nhưng dù sao cũng có công chăm bà mấy năm."

"Cháu nghe ạ."

"Chúng tôi bàn nhau, sẽ cho cháu hai mươi triệu."

"Hai mươi triệu để làm gì ạ?"

"Coi như tiền công."

"Tiền công mấy năm hả bác?"

"Sáu năm."

"Vâng." Tôi gật đầu. "Cháu tính nhẩm ra rồi ạ."

"Mày tính cái gì?"

"Hai mươi triệu chia sáu năm. Mỗi tháng hai trăm bảy mươi tám nghìn."

Cả gian nhà im một nhịp.

"Mày định cãi giá à?" Bác cả gằn.

"Cháu không cãi giá ạ. Cháu chỉ chia."

"Ký đi." Bác đẩy tờ giấy về phía tôi cùng một cây bút. "Ký vào giấy từ chối di sản này, rồi thu xếp về quê ngoại hay đi đâu tùy."

Cô Hường nhếch mép.

"Ký đi cháu. Được đồng nào hay đồng ấy."

Tôi nhìn tờ giấy.

Rồi tôi ngẩng lên nhìn khắp lượt.

Những người mà suốt sáu năm tôi cầu cứu không ai đáp lời.

"Sao?" Bác cả gõ ngón tay lên mặt bàn. "Hai mươi triệu là nhiều rồi đấy. Ký đi, còn về mà lo cho tương lai."

"Bác nói cho cháu tương lai."

"Ừ."

"Vậy cháu hỏi bác một câu ạ."

"Hỏi nhanh."

"Sáu năm bà đau ốm, có ai trong nhà hỏi cháu sống ra sao không?"

"Mày…"

"Cháu học dở dang năm hai. Có ai hỏi cháu bao giờ đi học lại không ạ?"

"Chuyện đó liên quan gì ở đây?"

"Không liên quan ạ." Tôi nói. "Cháu chỉ tiếc. Cả nhà ngồi đây chia mảnh đất bà để lại, mà đến giờ chưa ai thắp cho bà đủ một tuần nhang cho tử tế."

Vài người cúi mặt.

Bác cả cười khẩy.

"Nói hay lắm. Nhưng đời không sống bằng lời hay. Ký hay không thì bảo."

"Cháu không ký."

"Cái gì? Mày nói lại xem."

"Cháu nói cháu không ký ạ."

"Mày biết mày đang nói với ai không?"

"Cháu biết ạ."

"Mày…"

"Và cháu nghĩ, trước khi bàn chuyện chia đất," tôi nói, "cả nhà nên xem cái này đã."

Tôi đứng dậy, đi vào buồng trong, mang ra chiếc hòm gỗ.

Tôi đặt nó lên bàn, ngay trước mặt bác cả.

"Cái gì đây?"

"Bác mở ra ạ."

Bác cả không mở.

Bác nhìn tôi.

"Mày mở."

Tôi mở.

Tôi lấy ra túi ni lông đựng giấy tờ, đặt xuống mặt bàn.

"Đây là di chúc của bà."

Không khí trong phòng như đông cứng.

"Di chúc?" Cô Hường bật lên. "Bà làm gì có di chúc!"

"Có công chứng ạ. Có dấu đỏ. Có người làm chứng."

"Bà lập bao giờ?"

"Gần một năm trước. Lúc bà còn hoàn toàn tỉnh táo."

Bác cả giật lấy tập giấy, đọc lướt.

Tôi thấy rõ khuôn mặt bác biến sắc.

Từ đỏ gay chuyển sang tái mét.

Cô Hường nhoài người sang đọc ké, miệng há hốc.

Chú Tài đứng bật dậy, giật tờ giấy từ tay bác cả.

"Cái này…" Bác cả gằn giọng. Bàn tay cầm tờ di chúc run lên. "Cái này là giả!"

"Bác bảo giả ở chỗ nào ạ?"

"Mày làm giả chữ ký của bà!"

"Chữ ký hay điểm chỉ ạ?"

Bác cả khựng lại.

"Thì… điểm chỉ."

"Bác đọc kỹ chưa ạ? Bà ký chứ bà không điểm chỉ."

"Bà biết chữ đâu mà ký!"

"Bà ký được tên bà." Tôi nói. "Ba chữ. Chú Bảy dạy bà từ năm kia, tập cả tháng."

"Mày bắt bà lú lẫn ký bậy bạ chứ gì!"

"Bác có thể ra phòng công chứng xã kiểm tra ạ." Tôi đáp, không né tránh. "Có số hồ sơ lưu. Có ngày tháng. Có chữ ký công chứng viên."

"Ai làm chứng?"

"Chú Bảy và bà Tám hàng xóm."

Nhắc đến hai cái tên đó, gương mặt họ cứng đờ.

Cả xóm ai cũng biết chú Bảy và bà Tám là những người ngay thẳng, không bao giờ chịu ký bậy vào chuyện gian dối.

"Còn đây nữa ạ." Tôi rút cuốn sổ ghi chép, đặt lên bàn.

"Cái gì?"

"Sổ bà nhờ chú Bảy ghi hộ suốt mấy năm. Trong này ghi rõ từng lần cháu đưa bà đi viện, từng khoản thuốc thang."

"Ai thèm xem."

"Cháu để đây ạ. Ai muốn xem thì xem."

Bác cả gái, người từ nãy vẫn đứng sau lưng chồng, bỗng lên tiếng, giọng chua chát:

"Con ranh này khôn thật. Nó tính toán cả rồi."

"Bác bảo cháu tính toán ạ?"

"Chả trách mấy năm nó bám lấy bà không rời."

"Bác ơi." Tôi quay sang. "Nếu cháu tính toán thì cháu tính từ bao giờ ạ?"

"Thì từ lúc mày về đây!"

"Năm ấy bà mới tai biến lần một, bà còn ngồi được. Cháu là sinh viên năm hai."

"Thì sao?"

"Thì cháu tính toán kiểu gì mà cháu bỏ học sáu năm để đợi một cái di chúc cháu không biết là có?"

Bác cả gái nghẹn lời.

"Cháu ở lại chỉ vì bà là bà của cháu ạ." Tôi nói. "Vậy thôi."

Cô Hường vẫn chưa chịu buông.

"Vậy… vậy thì mảnh đất này đúng là để cho nó thật à?"

"Cô đọc thì cô biết."

"Không thể nào! Mẹ thiên vị! Mẹ chỉ nghĩ đến nó mà quên chúng con là con ruột!"

Tôi lặng lẽ mở lá thư của bà, đặt lên bàn.

"Cái gì đây?"

"Thư bà viết tay, gửi riêng cho cháu ạ."

"Thư riêng thì đưa tao làm gì."

"Trong đó bà có nhắn cả nhà." Tôi nói. "Cô đọc đi ạ."

Cô Hường vồ lấy lá thư.

Càng đọc, mặt cô càng đanh lại.

Rồi bất giác chùng xuống.

Có những dòng tôi đã thuộc nằm lòng.

"Bà không trách các con. Nhưng bà buồn. Bà đau ốm mấy năm, bà chỉ mong một lần các con về ngồi với bà, hỏi bà một câu cho ấm lòng. Vậy mà không có. Chỉ có con Diệu. Nó còn trẻ, nó bỏ cả học hành, cả tuổi xuân để hầu bà. Bà để lại cho nó, không phải vì bà ghét các con, mà vì bà muốn các con hiểu: ở đời, cái tình cái nghĩa mới là thứ đáng giá nhất. Tiền bạc đất đai rồi cũng thành tro bụi cả thôi."

Cô Hường buông thõng tay.

Cả gian phòng chìm trong im lặng nặng nề.

Rồi bác cả đập bàn đứng dậy.

"Được!"

"Bác…"

"Có di chúc thì ra tòa! Tôi kiện!"

"Bác kiện với lý do gì ạ?"

"Bà già lú lẫn! Di chúc không có giá trị!"

"Vâng." Tôi nói. "Bác cứ kiện."

Bác cả khựng lại.

"Mày… mày không sợ à?"

"Cháu tin pháp luật sẽ công bằng ạ."

"Mày tin pháp luật?"

"Cháu tin cả những người hàng xóm ở đây nữa." Tôi nói. "Những người đã chứng kiến sáu năm qua ai chăm bà, ai ở đâu."

Bác cả nhìn ra ngoài sân.

Ngoài đó, bà Tám và mấy người hàng xóm đang đứng tự bao giờ, lặng lẽ dõi theo.

Bà Tám bước hẳn vào trong, giọng run run nhưng dứt khoát.

"Anh Thịnh à."

"Bà… bà vào đây làm gì?"

"Tôi sống cạnh cụ mấy chục năm."

"Chuyện nhà tôi, bà…"

"Anh để tôi nói cho hết." Bà Tám chống gậy. "Sáu năm cụ nằm liệt, tôi chỉ thấy con Diệu chăm cụ. Anh muốn kiện thì cứ kiện. Nhưng ra tòa, tôi cũng nói đúng những lời này."

"Bà…"

"Anh là con." Bà Tám nói. "Mà cả năm không về với mẹ lấy một lần. Giờ mẹ mất anh về giành đất."

"Tôi có giành đâu, tôi…"

"Anh không thấy hổ với vong linh cụ hay sao?"

Bác cả đỏ bừng mặt.

Không cãi lại được một câu.

Ngoài sân có tiếng ai đó nói vọng vào.

"Cả cái xóm này ai chả biết con Diệu chăm cụ thế nào."

"Giờ về giành của người ta, coi sao được."

Tiếng xì xào lan đi.

Bác cả càng lúc càng đuối lý, chỉ còn biết lớn tiếng để giữ thể diện.

"Được rồi! Tòa xử! Tòa xử thì tôi chịu!"

"Vâng ạ." Tôi nói.

Cô Hường ngồi phịch xuống ghế, hai tay ôm mặt.

Tối hôm đó, khi họ hàng đã lục tục ra về, tôi ngồi một mình bên bàn thờ bà rất lâu.

Tôi lấy lá thư ra đọc lại.

Và ánh mắt tôi dừng ở dòng cuối cùng — dòng mà tôi chưa đọc to cho ai nghe.

Một lời dặn khác hẳn với sự cứng rắn của tôi trong buổi họp hôm nay.

Tôi nhìn lên di ảnh bà.

"Bà ơi."

Tất nhiên bà không trả lời.

"Bà muốn cháu làm vậy thật sao ạ? Sau tất cả những gì họ đối xử với bà, với cháu?"

Trong ánh nến chập chờn, gương mặt bà trong khung ảnh vẫn hiền hậu.

Tôi gấp lá thư lại.

"Cháu chưa làm được đâu bà ạ." Tôi nói khẽ. "Cháu xin bà cho cháu thêm ít lâu."

"Cháu ngồi xuống đi. Đừng run."

"Cháu không run ạ."

"Tay cháu đang run đấy."

"Tại trời lạnh ạ."

"Ừ." Anh luật sư cười. "Cứ cho là trời lạnh."

Bác cả kiện thật.

Hai tuần sau buổi họp họ, tôi nhận giấy triệu tập của toà án.

Bác cả đứng đơn, cô Hường và chú Tài ký tên đồng nguyên đơn, yêu cầu tuyên bản di chúc vô hiệu, với lý do bà lập di chúc khi "không còn minh mẫn, bị cháu gái lợi dụng".

Người nhận giúp tôi là một luật sư do con trai bà Tám giới thiệu.

Anh không lấy của tôi đồng phí nào.

"Bản di chúc này chặt chẽ." Anh nói, sau khi xem kỹ hồ sơ. "Có công chứng viên xác nhận năng lực hành vi của cụ tại thời điểm lập. Có hai người làm chứng độc lập."

"Vậy cháu thắng ạ?"

"Cháu đừng hỏi câu đó."

"Sao ạ?"

"Vì bên kia họ cũng đang hỏi luật sư của họ đúng câu ấy." Anh gấp hồ sơ lại. "Việc của cháu bây giờ chỉ là đến tòa và nói thật."

"Cháu nói gì ạ?"

"Nói cái cháu đã làm sáu năm."

"Cháu chả làm gì to tát cả."

"Đấy." Anh nói. "Cháu cứ nói đúng như thế."

Những ngày chờ ra tòa dài dằng dặc.

Bác cả cho người đến gạ, lúc dọa tôi sẽ mất trắng, lúc lại xuống nước bảo tôi cứ nhận vài chục triệu rồi rút cho êm chuyện.

Cô Hường nhờ người nhắn tin bóng gió rằng con gái mới lớn mà đi kiện tụng với cả họ thì "mang tiếng cả đời, sau này ai dám lấy".

Tôi đọc, rồi xóa.

Ngày ra tòa, tôi mặc bộ quần áo giản dị nhất, tay ôm cuốn sổ nhỏ của bà.

Bên nguyên đơn thuê hẳn một luật sư mặc vest, mang theo xấp hồ sơ dày cộp.

"Thưa hội đồng xét xử." Ông ta đứng lên. "Cụ Nguyễn Thị Mão thời điểm lập di chúc đã tám mươi mốt tuổi, có tiền sử tai biến hai lần, trí nhớ suy giảm rõ rệt. Thân chủ tôi khẳng định cụ không còn đủ minh mẫn."

"Ông có tài liệu y tế chứng minh không?" Chủ tọa hỏi.

"Chúng tôi có lời khai của ba người con ruột."

"Tôi hỏi tài liệu y tế."

"Thưa, hiện chưa có ạ."

"Mời bị đơn."

Tôi đứng lên.

"Chị trình bày."

"Thưa tòa, cháu không nói nhiều đâu ạ." Tôi nói. "Cháu chỉ xin nộp mấy thứ này."

"Chị nộp gì?"

"Sổ khám bệnh của bà cháu. Sáu năm, hai mươi ba lần đi viện. Ở mục người nhà, cháu ký hai mươi ba lần ạ."

"Chị nộp tiếp."

"Hóa đơn viện phí. Có ghi ngày tháng."

"Còn gì nữa không?"

"Còn ảnh ạ. Cháu chụp bằng điện thoại."

"Ảnh gì?"

"Bà cháu ngồi xe lăn, cháu đẩy ra vườn. Bà cháu cười khi cháu cắt tóc cho bà. Bữa cơm hai bà cháu."

Vị luật sư bên kia đứng dậy.

"Thưa tòa, ảnh chụp không chứng minh được năng lực hành vi của người lập di chúc."

"Ông nói đúng." Chủ tọa nói. "Nhưng nó chứng minh được ai ở đó."

Rồi tòa mời nhân chứng.

Bà Tám bước lên, chống gậy, tay run run vịn vào thành ghế.

"Cụ tên gì ạ?"

"Tôi là Trần Thị Tám. Bảy mươi chín tuổi."

"Cụ quan hệ thế nào với người để lại di sản?"

"Hàng xóm. Bốn mươi hai năm."

"Cụ có mặt hôm cụ Mão lập di chúc không?"

"Có. Tôi đẩy xe lăn cho cụ ấy ra xã."

"Hôm ấy cụ Mão thế nào?"

"Cụ ấy tỉnh." Bà Tám nói. "Nói năng rành mạch. Người ta hỏi hai tiếng đồng hồ, cụ ấy trả lời hết."

"Cụ nhớ người ta hỏi gì không?"

"Hỏi cụ ấy có mấy người con. Cụ ấy đọc đủ tên bốn đứa, kể cả thằng Ba đã chết."

Ở hàng ghế nguyên đơn có tiếng ghế xê dịch.

"Người ta còn hỏi gì nữa ạ?"

"Hỏi cụ ấy có bị ai ép buộc không."

"Cụ ấy trả lời sao?"

Bà Tám quay hẳn người về phía hàng ghế nguyên đơn.

"Cụ ấy bảo: tôi tám mươi mốt tuổi rồi, chả ai ép được tôi cái gì. Con bé nó còn không biết tôi đang ngồi đây."

Cả phòng xử im.

"Bị đơn hôm ấy có mặt không?" Chủ tọa hỏi.

"Không ạ." Bà Tám nói. "Con Diệu ở nhà. Cụ ấy dặn chúng tôi đừng cho nó biết."

"Vì sao?"

"Cụ ấy bảo: nói ra nó lại cản tôi."

Vị luật sư bên kia lật giở hồ sơ, tìm một lúc lâu.

"Ông có câu hỏi cho nhân chứng không?" Chủ tọa hỏi.

"Thưa… tôi xin hỏi một câu."

"Ông hỏi."

"Cụ có được hưởng lợi gì từ bản di chúc này không?"

"Tôi á?" Bà Tám ngẩng lên. "Tôi bảy mươi chín rồi ông ạ. Tôi được cái gì?"

"Tôi hỏi cho rõ."

"Tôi làm chứng vì cụ Mão nhờ tôi." Bà nói. "Cụ ấy đau ốm sáu năm, mấy năm cuối nằm liệt hẳn, ba đứa con không về. Tôi sang tắm cho cụ ấy được mấy lần thì tôi cũng già rồi. Chỉ có con Diệu."

"Cụ trả lời câu hỏi thôi ạ."

"Tôi đang trả lời đấy chứ." Bà Tám gõ gậy xuống nền. "Ông hỏi tôi được lợi gì. Tôi nói cho ông nghe: tôi chả được gì. Tôi chỉ không muốn xuống dưới ấy gặp cụ Mão mà không dám nhìn mặt."

Chú Bảy được mời lên sau.

"Ông là người viết hộ lá thư?"

"Vâng ạ. Tôi cầm tay cụ ấy tập ký tên."

"Mất bao lâu?"

"Cả tháng. Ba chữ mà cụ ấy tập cả tháng."

"Vì sao cụ ấy phải tập?"

"Cụ ấy bảo:" — chú Bảy dừng lại, hắng giọng — "cụ ấy bảo tôi phải ký được, chứ điểm chỉ thì sau này chúng nó lại bảo tôi lú."

Ở hàng ghế nguyên đơn, bác cả cúi đầu xuống.

Chủ tọa hỏi thêm một câu cuối.

"Nguyên đơn còn ý kiến gì không?"

Bác cả không đứng lên.

"Ông Nguyễn Văn Thịnh."

"Dạ."

"Ông có ý kiến gì không?"

Bác cả đứng dậy rất chậm.

"Thưa tòa… tôi…"

"Ông cứ nói."

"Tôi… rút một phần đơn ạ."

Luật sư của bác giật mình quay sang.

"Anh Thịnh, khoan đã…"

"Tôi rút." Bác cả nói to hơn. "Cái khoản mẹ tôi lú lẫn ấy, tôi rút."

"Vì sao ông rút?"

Bác cả im rất lâu.

"Vì mẹ tôi tập ký cả tháng, thưa tòa."

Hội đồng xét xử vào nghị án.

Ba mươi phút sau, chủ tọa đọc bản án.

Di chúc hợp pháp, có hiệu lực.

Toàn bộ căn nhà và mảnh đất thuộc về tôi, đúng theo ý nguyện của bà.

Khi tiếng búa gõ xuống, tôi không reo mừng.

Tôi chỉ cúi đầu.

Ra đến sân tòa, bác cả đi trước tôi mấy bước.

Bác dừng lại ở cổng.

"Diệu."

"Dạ bác."

"Cái câu bà tập ký cả tháng ấy…"

"Vâng."

"Sao mày không nói với tao từ hôm họp họ?"

"Cháu có nói ạ." Tôi đáp. "Bác bảo cháu là ai mà nói."

Bác cả đứng im.

Rồi bác đi ra chỗ xe, không quay lại.

Về đến căn nhà quen thuộc, tôi thắp một nén nhang lên bàn thờ bà.

Gian nhà vắng lặng.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế bà vẫn hay ngồi, nhìn ra khoảnh vườn bà từng trồng rau.

Và lần đầu tiên sau bao ngày, tôi để mình khóc cho thỏa.

Mấy hôm sau bà Tám sang, mang cho tôi bát canh cua nấu rau đay.

"Ăn đi con."

"Cháu cảm ơn bà."

"Hôm ở tòa bà nói có được không?"

"Bà nói được lắm ạ."

"Bà run gần chết." Bà cười. "Cả đời bà có bước chân vào tòa bao giờ đâu."

"Sao bà vẫn đi ạ?"

"Vì bà với bà con hồi trẻ có hẹn nhau một câu."

"Hẹn gì hả bà?"

"Hẹn là đứa nào đi trước thì đứa còn lại trông nom con cháu cho." Bà Tám nói. "Bà con đi rồi. Giờ bác coi con như cháu trong nhà."

Một năm sau ngày bà mất, chú Tài đổ bệnh nặng, làm ăn thua lỗ.

Chú tìm đến, đứng ngoài cổng hồi lâu mới dám gõ cửa.

"Cháu… cháu Diệu."

"Chú vào nhà đi ạ."

"Chú… chú đứng đây được rồi."

"Trời nắng. Chú vào đi."

Chú Tài vào, ngồi xuống mép ghế, hai tay đặt trên đùi.

"Chú uống nước đi ạ."

"Ừ."

"Chú ốm lâu chưa?"

"Ba tháng."

"Sao chú không báo ai?"

"Báo ai bây giờ." Chú cúi mặt. "Anh Thịnh với cô Hường thì… thôi."

Chú nhìn lên di ảnh bà.

Rồi chú bật khóc.

"Chú ạ."

"Lẽ ra chú phải về với bà sớm hơn."

"Chú đừng nói nữa."

"Hồi đó chú tưởng cứ gửi ít tiền về là tròn chữ hiếu." Chú nghẹn ngào. "Đến khi mất bà rồi chú mới hiểu, thứ bà cần đâu phải tiền."

"Vâng."

"Vậy mà chú lại còn về giành với cháu."

Tôi để chú khóc cho vơi.

Rồi tôi vào buồng, lấy lá thư của bà ra.

"Chú đọc giúp cháu dòng cuối cùng này ạ."

"Dòng nào cơ?"

"Dòng cháu chưa đọc cho ai nghe."

Chú Tài cầm lá thư, đọc, giọng vỡ ra ở giữa chừng.

"Diệu ơi, của cải bà để lại cho cháu, cháu cứ dùng cho cuộc đời mình. Nhưng nếu sau này các bác các cô có lúc nào khốn khó thật sự, mà biết quay đầu, thì cháu đừng chấp nhặt. Máu mủ ruột rà, giận thì giận mà thương vẫn phải thương. Bà đi rồi, chỉ mong các con các cháu của bà đừng vì mấy thước đất mà thành người dưng."

Chú Tài đặt lá thư xuống, hai tay run.

"Bà viết câu này bao giờ?"

"Gần một năm trước ạ."

"Tức là lúc bà còn…"

"Lúc bà còn nằm một chỗ, chú ạ. Lúc chưa ai về."

Chú Tài không nói được nữa.

"Chú cần bao nhiêu để chữa bệnh ạ?" Tôi hỏi.

"Cháu…"

"Chú cứ nói con số."

"Chú không dám nhận đâu."

"Cháu không cho chú." Tôi nói. "Cháu làm theo lời bà."

"Cháu…"

"Chú cầm đi ạ. Rồi tháng sau chú về thắp cho bà một nén nhang. Bà chỉ cần có thế thôi."

Bác cả và cô Hường thì lâu hơn nữa mới chịu nhìn mặt tôi.

Nhưng đến giỗ đầu của bà, họ cũng về.

Lặng lẽ đứng phía sau thắp hương, không ai nhắc lại chuyện cũ.

Bác cả ra về sau cùng.

Đến cổng, bác dừng lại.

"Diệu."

"Dạ."

"Cái vườn rau sau nhà mày vẫn trồng à?"

"Cháu vẫn trồng ạ."

"Trồng đúng luống của bà không?"

"Đúng luống ạ."

Bác cả gật đầu một cái, rất khẽ.

Rồi bác đi ra ngõ.

Tôi đứng ở cổng nhìn theo, đến khi bóng bác khuất sau rặng tre.

Giờ đây, mỗi sáng thức dậy, tôi vẫn pha một ấm trà, đặt lên bàn thờ bà một chén.

Tôi đã đi học lại.

Đã tốt nghiệp.

Đã đi làm.

Nhưng thứ quý giá nhất bà để lại cho tôi không phải căn nhà, cũng không phải cuốn sổ tiết kiệm.

Mà là ba chữ bà tập ký cả một tháng trời, để sau này không ai dám bảo bà lú.

Bà không giành lại cái nhà cho tôi.

Bà chỉ không để ai lấy mất tiếng nói cuối cùng của bà.

Chia sẻ:FacebookXThreadsTelegram
Thấy lỗi trong bài? Báo cho ban biên tập

Đọc tiếp