
Bà cụ bán xôi vỉa hè bị nhà hàng sang chèn ép, đuổi khỏi góc phố đã ngồi hai mươi năm
"Đã bảo bà dọn đi chỗ khác cả tuần nay rồi mà cứ lì ra đấy!"
"Cậu Long, cậu đá cái gì thế?"
"Tôi đá cái nồi. Bà không nghe thì tôi phải cho bà nghe."
Cú đá của nó làm chiếc xe xôi của tôi đổ nghiêng.
Cả nồi xôi gấc còn nóng hắt xuống mặt đường, đỏ au như máu loang giữa vỉa hè buổi sáng.
Tôi khuỵu xuống, hai bàn tay vơ lấy những hạt xôi vương vãi.
"Bà nhặt làm gì? Nhặt lên bà lại bán cho người ta à?"
"Tôi nhặt cho sạch đường."
"Sạch đường?" Nó khoanh tay đứng nhìn xuống. "Cái vỉa hè này bây giờ là mặt tiền của nhà hàng anh Khải. Bà bày ba cái xôi hôi rình ở đây, ai người ta còn muốn vào ăn nữa."
"Cậu ơi, cái vỉa hè này của chung."
"Của chung?"
"Tôi ngồi đây từ khi anh Khải của cậu còn chưa biết cái phố này ở đâu."
"Bà nói khoác vừa thôi."
"Tôi không nói khoác." Tôi phủi hai bàn tay dính xôi vào vạt áo. "Cậu muốn tôi đi, cậu bảo anh Khải ra đây nói chuyện với tôi tử tế. Đừng đá đổ đồ ăn. Tội lắm."
"Tử tế?" Nó bật cười, cái cười khẩy nghe rất khô. "Bà già rồi, để tôi nói cho bà biết. Đây là thời của người có tiền."
"Ừ."
"Anh Khải bỏ ra bao nhiêu tỷ để dựng cái nhà hàng ba tầng kia. Bà nghĩ mấy đồng bạc lẻ bán xôi của bà đấu lại được với anh ấy à?"
"Tôi không đấu với ai cả, cậu à."
"Thế bà ngồi đây làm gì?"
"Tôi bán xôi."
Người qua đường dừng lại nhìn, xì xào, nhưng không một ai bước tới đỡ tôi dậy.
Tôi bảy mươi mốt tuổi, ngồi ở góc phố này hai mươi năm, sáng nào cũng đồ ba nồi xôi từ ba giờ: một nồi gấc, một nồi đậu xanh, một nồi lạc.
Xôi tôi gói bằng lá chuối, buộc dây lạt.
Cái xe đẩy sơn xanh đã tróc gần hết, một bánh cao su nứt tôi lấy dây thép quấn lại.
Ba tháng nay, từ hôm cái nhà hàng ba tầng mọc lên, sáng nào thằng Long cũng ra đứng ở cửa kính nhìn sang.
Nhìn ba tháng, hôm nay nó đá.
Long rút điện thoại ra, chụp lia lịa mấy tấm ảnh nồi xôi đổ.
"Cậu chụp làm gì đấy?"
"Chụp lại để gửi ban quản lý. Bày hàng chắn lối vào khu, mất vệ sinh."
"Cậu đá đổ rồi cậu chụp cái đống cậu vừa đá."
"Bà nói gì?"
"Tôi nói cậu đá đổ rồi cậu chụp."
"Ai chứng minh được?"
Tôi nhìn quanh.
Mười mấy người đứng đó.
Không ai nói gì.
"Đấy." Long cười. "Chiều nay là có người tới hốt hết đồ của bà cho coi."
Nói xong nó quay lưng, ung dung bước vào cánh cửa kính sáng loáng của nhà hàng Hương Khải, cái nhà hàng ba tầng vừa mới khai trương được ba tháng.
"Bà Tư! Bà có sao không bà?"
Cậu Nam chạy từ bên kia đường sang, tay còn cầm cốc cà phê chưa kịp uống.
Cậu ta bằng tuổi con tôi, sáng nào cũng ghé mua một gói xôi gấc trước khi vào công ty.
Hồi cậu ta còn mặc quần đùi chạy theo mẹ, tôi đã ngồi ở góc này rồi.
"Bà không sao."
"Bà đưa tay con xem."
"Không sao thật mà cậu."
"Tay bà lạnh ngắt thế này còn bảo không sao." Cậu ta ngồi thụp xuống nhặt hộ tôi mấy cái hộp xốp. "Sao lúc nãy con không chạy sang sớm hơn."
"Cậu chạy sang thì được cái gì."
"Ít ra con đỡ bà dậy."
"Cậu đỡ tôi dậy thì họ đá lần nữa."
Cậu Nam im.
"Tiếc mỗi nồi xôi." Tôi nói. "Sáng nay tôi dậy từ ba giờ đồ, định để dành phần cho mấy đứa nhỏ bán vé số."
"Bà ơi." Cậu ta hạ giọng. "Hay bà dời qua đầu hẻm bên kia đi. Con phụ bà đẩy xe."
"Không đi được đâu cậu."
"Ở đây họ làm dữ quá, con sợ bà có chuyện."
"Cậu Nam à." Tôi nhìn về phía cánh cửa kính. "Cái góc này với người khác chỉ là chỗ bán buôn. Nhưng với tôi, nó là cả một đời người."
"Bà nói vậy nghĩa là sao ạ?"
"Nghĩa là tôi ngồi đây có lý do."
"Lý do gì hả bà?"
Tôi không đáp.
Tôi lấy cái khăn lau vành nồi.
Trưa hôm đó, đúng như lời thằng Long dọa, một chiếc xe tải nhỏ của ban quản lý tuyến phố tấp vào.
Hai người mặc đồng phục bước xuống.
"Bà là bà Tư bán xôi phải không?"
"Vâng, tôi đây."
"Có người gửi đơn lên ban quản lý, nói bà bày hàng chắn lối vào khu, mất vệ sinh. Bên em buộc phải mời bà dọn xe đi chỗ khác."
Cậu Nam bước ra định nói.
Tôi kéo tay cậu ta lại.
"Các cậu cứ làm đúng phần việc của mình." Tôi nói. "Nhưng cho tôi hỏi một câu."
"Bà hỏi đi."
"Cái đơn đó, người ta ghi địa chỉ là số mấy?"
Cậu nhân viên trẻ lật cuốn sổ.
"Dạ, số 47 đường này, ngay trước nhà hàng Hương Khải."
"Số 47." Tôi lặp lại.
"Vâng, số 47."
"Cậu đọc lại giúp tôi lần nữa."
"Dạ… số 47. Sao hả bà? Có gì không đúng ạ?"
"Không." Tôi nói. "Đúng lắm."
Cậu ấy nhìn tôi, hơi lạ.
"Các cậu cứ ghi vào sổ." Tôi nói tiếp. "Nhưng tôi xin phép giữ lại cái xe. Còn chuyện lấn chiếm hay không, để rồi tính."
"Bà nói thế thì khó cho tụi con."
"Tôi biết. Nên tôi chỉ xin, chưa cãi."
Hai người ghi vào sổ rồi đi.
Vừa khuất bóng thì thằng Long từ trong nhà hàng bước ra, tay xỉa tăm.
"Sao rồi bà? Người ta ghi tên bà chưa?"
"Rồi cậu."
"Đấy. Tôi đã bảo mà bà không nghe."
"Cậu vui à?"
"Tôi không vui. Tôi làm việc." Nó nhổ cái tăm xuống đất. "Bà Sáu ơi, bà bán trái cây kìa, bà nghe cho rõ nhé. Bà Tư bị lập biên bản rồi đấy. Ai còn bày ra vỉa hè này thì cũng thế thôi."
Bà Sáu vội kéo sạp trái cây thụt vào trong.
"Cậu Long." Tôi nói. "Cậu dọa bà Sáu làm gì. Bà ấy có làm gì cậu đâu."
"Tôi dọa ai? Tôi thông báo."
"Cậu thông báo giữa đường cho cả phố nghe."
"Ừ thì cho cả phố nghe." Nó cười. "Bà thấy nhục thì bà dọn đi."
Cậu Nam bước lên một bước.
Tôi giữ tay cậu ta lại.
"Cậu Long."
"Gì?"
"Tôi hỏi cậu câu cuối cùng. Cậu có chắc anh Khải của cậu muốn cậu làm thế này không?"
"Anh Khải bảo tôi dọn sạch cái góc này. Tôi dọn."
"Vậy tôi nhờ cậu một việc."
"Việc gì?"
"Cậu về nói với anh Khải, có một bà già bán xôi muốn gặp anh ấy một lần. Chỉ một lần thôi."
"Bà mơ à?" Nó bật cười to. "Anh Khải mà tiếp bà? Bà biết một bữa ăn trong quán tôi bao nhiêu tiền không?"
"Tôi không biết."
"Bằng cả tháng bà bán xôi đấy!"
"Vậy cậu nói giùm tôi nhé."
"Tôi không nói."
"Cậu cứ nói. Sau này khỏi ai trách cậu là không nói."
Nó nhìn tôi một cái rất nhanh, rồi quay vào.
Cậu Nam đứng cạnh tôi, mặt vẫn còn hằm hằm.
"Bà ơi, bà cứ nhịn hoài vậy sao?"
"Tôi có nhịn đâu."
"Bà không nhịn thì là gì?"
"Tôi đợi."
"Đợi gì ạ?"
"Đợi người ta nói hết cái phần người ta muốn nói."
Cậu Nam nhíu mày, chắc chẳng hiểu gì.
"Cậu Nam, chiều nay rảnh không?"
"Dạ rảnh. Bà cần gì ạ?"
"Ghé nhà tôi một chút. Tôi có việc muốn nhờ."
"Việc gì hả bà?"
"Cậu cứ tới rồi biết."
Chiều đó tôi đẩy xe về sớm.
Đi qua trước cửa nhà hàng, tôi ngẩng lên nhìn tầng ba.
Sau lớp kính có một bóng người đàn ông trung niên đứng đó, mặc vest, tay cầm ly rượu vang.
Nó đứng cao ba tầng, nhìn xuống cái góc phố mà nó không biết là của ai.
Tôi đẩy xe đi.
Trong túi áo bà ba của tôi, cái chìa khóa tủ gỗ ở nhà vẫn nằm nguyên chỗ cũ, ba mươi năm nay chưa lần nào tôi mở.
"Bà ơi, cái ảnh này là ai vậy bà?"
"Cậu đoán thử xem."
"Con chịu. Một cô nào đó hồi trẻ, đứng trước dãy nhà đang xây."
"Là tôi."
Cậu Nam quay phắt lại nhìn tôi, rồi lại nhìn tấm ảnh đen trắng treo trên tường.
"Bà nói thật ạ?"
"Ba mươi tuổi. Cậu không nhận ra đúng không."
"Người trong ảnh… đứng thẳng lưng lắm bà ạ."
"Hồi đó tôi có việc để đứng thẳng."
Nhà tôi nằm sâu trong hẻm, cấp bốn, mái tôn, trước cửa có giàn hoa giấy đỏ che kín khoảnh sân xi măng.
Trên tường treo mấy tấm bằng khen ố vàng mà tôi chưa bao giờ buồn lau bụi, với tấm ảnh đen trắng cậu Nam đang đứng nhìn: một người đàn bà ba mươi tuổi đứng trước dãy nhà xây dở, xung quanh là thợ.
Tôi rót cho cậu ta một ly trà nóng, đặt xuống bàn.
"Cậu ngồi đi. Chuyện tôi nhờ cậu dài, phải kể từ đầu."
"Dạ."
"Trước khi bán xôi, tôi làm chủ thầu xây dựng."
Cậu Nam suýt làm rơi ly trà.
"Bà… làm chủ thầu ạ?"
"Ừ. Hai vợ chồng, một công ty nhỏ. Ông nhà tôi tên Thành."
"Rồi sao ạ?"
"Cái khu phố mà bây giờ nhà hàng Hương Khải đang đứng đó, ngày xưa chính tay tôi với ông ấy san lấp."
"Bà nói cái khu phố nào cơ?"
"Cả cái dãy từ ngã tư xuống tới trạm điện."
"Cả dãy đó ạ?"
"Hồi đó nó là ruộng. Tôi mua từ khi nó còn là ruộng, rồi san lấp, làm đường, chia lô."
Cậu Nam đặt ly trà xuống, không dám cầm nữa.
"Vậy… vậy đất bây giờ đâu hết rồi bà?"
"Bán."
"Bán hết ạ?"
"Ông nhà tôi đổ bệnh. Ung thư."
"Trời ơi."
"Chạy chữa mấy năm trời. Bao nhiêu tiền của đội nón ra đi. Tôi bán dần đất để lo cho ông ấy."
"Bà bán hết à bà?"
"Không. Tôi giữ lại đúng một lô."
"Lô nào ạ?"
"Lô số 47."
Cậu Nam ngẩng phắt lên.
"Số 47… là cái số mà sáng nay cậu kia đọc trong sổ?"
"Ừ."
"Chỗ nhà hàng đang đứng?"
"Ừ."
"Sao bà giữ lại đúng lô đó?"
"Vì trên lô đất ấy, ngày xưa vợ chồng tôi dựng một cái quán ăn."
"Quán ăn gì hả bà?"
"Quán cơm. Ai đói thì vào ăn, không lấy tiền."
"Không lấy tiền thật ạ?"
"Ông nhà tôi hay nói thế này." Tôi nhấp một ngụm trà. "Mình làm ăn kiếm được đồng nào là nhờ ơn trời, nhờ bà con thương. Vậy nên phải biết chia lại cho người khổ hơn mình."
"Rồi ai tới ăn hả bà?"
"Người bán vé số. Người đạp xích lô. Mấy đứa trẻ lang thang không nhà. Cứ vào là có cơm nóng canh nóng, không hỏi han, không phân biệt."
"Vợ chồng bà nuôi nổi à?"
"Không giàu, nhưng cái quán ấy chưa bao giờ để ai phải nhịn đói ra về."
Cái quán đó rộng chừng bốn chục mét vuông, lợp fibro xi măng, kê tám cái bàn gỗ ông nhà tôi tự đóng.
Trưa và tối mở cửa.
Ông ấy đứng bếp, tôi đứng chia cơm.
Mỗi ngày hết ba mươi ký gạo.
Cậu Nam im một lúc.
"Vậy sao giờ nó lại thành nhà hàng của ông Khải hả bà?"
"Đó chính là điều tôi muốn nhờ cậu. Nhưng trước hết, để tôi kể cậu nghe về thằng Khải đã."
"Thằng… Khải ạ?"
"Ừ. Thằng Khải."
"Bà gọi ông chủ nhà hàng là thằng?"
"Tôi gọi nó thế ba mươi năm nay rồi."
"Bà quen ông ấy ạ?"
"Cái thằng Khải chủ nhà hàng bây giờ, ngày xưa nó là một đứa trẻ ăn xin đầu đường."
Cậu Nam ngồi thẳng dậy.
"Bà nói lại con nghe."
"Nó mồ côi cả cha lẫn mẹ. Đói rách, lang thang. Cái quán cơm của vợ chồng tôi nuôi nó suốt mấy năm."
"Sao bà gặp nó?"
"Một đêm mùa đông rét cắt da. Tôi đang dọn quán thì thấy một thằng bé chừng mười tuổi ngồi co ro ở góc tường."
"Rồi bà làm gì?"
"Nó không dám vào, chỉ đứng nhìn nồi cháo bốc khói. Tôi gọi nó vào, múc cho nó một tô đầy."
"Nó ăn không bà?"
"Ăn ngấu nghiến. Vừa ăn vừa khóc."
"Sao lại khóc ạ?"
"Tôi hỏi ra mới biết cha mẹ nó mất cả, nó đi ăn xin, tối ngủ gầm cầu."
"Rồi sau đó thì sao hả bà?"
"Từ đó ngày nào nó cũng tới quán. Tôi may cho nó cái áo bông. Mua cho nó đôi dép. Thấy nó sáng dạ, ham học, tôi cho tiền để nó đi học lại."
"Nó học được không bà?"
"Học giỏi lắm cậu à. Tôi còn nhớ cái ngày nó khoe tôi tấm giấy khen học sinh giỏi đầu tiên."
"Nó khoe kiểu gì hả bà?"
"Nó chạy từ đầu ngõ vào, giơ tờ giấy lên, mặt rạng rỡ như mặt trời. Tôi mừng đến rơi nước mắt."
Tôi dừng lại.
Ngoài sân, gió chiều lùa qua giàn hoa giấy, mấy cánh đỏ rơi xuống nền xi măng.
Tôi ngồi im nhìn chúng một lúc, cái tật của người già, hễ nhắc chuyện cũ là mắt cứ đi đâu mất.
"Rồi sao nữa bà?"
"Rồi ông nhà tôi bệnh. Quán đóng cửa. Tôi phải về quê. Từ đó mất liên lạc với nó."
"Bà không tìm nó ạ?"
"Tôi có gì đâu mà tìm. Nghe đâu nó bươn chải, làm ăn, rồi giàu lên."
"Bà không giận nó à?"
"Giận gì. Tôi mừng cho nó."
"Nhưng nó cho người ta đá đổ nồi xôi của bà!"
"Người ta càng lên cao thì càng dễ quên đi cái gốc gác của mình." Tôi nói. "Chuyện đó thường thôi cậu."
"Bà nói nghe nhẹ hều."
"Tôi già rồi. Nặng nhẹ gì cũng thế cả."
"Nhưng thưa bà." Cậu Nam ngập ngừng. "Nếu đất là của bà, sao bây giờ ông Khải lại xây nhà hàng ở đó được?"
"Vì tôi để mất."
"Mất kiểu gì ạ?"
"Sau khi ông nhà tôi mất, tôi kiệt quệ cả tiền bạc lẫn sức khỏe. Đổ bệnh, phải về quê dưỡng mấy năm."
"Còn giấy tờ nhà đất thì sao bà?"
"Tôi cất kỹ. Nhưng lúc đó rối ren quá, tôi cũng không màng tới nữa."
Hai năm ấy tôi nằm ở quê, ngoài Vĩnh Bảo, trong căn nhà thờ họ của bên ngoại.
Có tháng tôi không ra khỏi giường.
Người ta bảo tôi hết vía.
Tôi thì biết tôi chỉ hết chỗ để mà nhớ tới.
Cái gì cần lo, tôi đã lo trong bốn năm ông ấy nằm viện.
Xong bốn năm đó, trong người tôi chẳng còn gì.
"Rồi khi bà quay lại?"
"Lô đất số 47 đã bị người ta chiếm mất. Có kẻ làm giả giấy tờ, sang tên đổi chủ."
"Bà không kiện à?"
"Có. Kiện mấy năm."
"Rồi sao ạ?"
"Tôi nghèo, không tiền không thế. Kiện mấy năm không xong. Cuối cùng tôi đành buông."
Bốn lần nộp đơn.
Hai lần được gọi lên.
Một lần người ta bảo hồ sơ thiếu, một lần người ta bảo quá thời hiệu.
Lần cuối cùng tôi ngồi ngoài hành lang tòa từ bảy giờ sáng đến bốn giờ chiều, không ai gọi tên.
Tôi đi bộ về, ngang qua chỗ lô đất, thấy người ta đang đổ móng.
"Rồi bà làm gì?"
"Tôi dựng cái xe xôi ngay góc phố đó."
Cậu Nam nhìn tôi rất lâu.
"Vậy hai mươi năm nay bà ngồi bán xôi ngay cạnh miếng đất của bà?"
"Ừ."
"Bà ngồi đó để làm gì hả bà?"
"Để được ở gần cái nơi từng là mái ấm của mình." Tôi nói. "Ngày ngày nhìn về phía lô đất cũ mà nhớ ông nhà tôi."
Cậu Nam đưa tay quệt mắt.
"Con hiểu vì sao bà không chịu dời đi rồi."
"Chưa hết đâu cậu."
Tôi đứng dậy, đi tới chiếc tủ gỗ cũ trong góc nhà.
Cái tủ này ông nhà tôi đóng năm tám chín, gỗ xoan, hai cánh, khóa đồng.
Ba mươi năm tôi lau nó mỗi tuần một lần mà chưa lần nào mở.
Cái chìa khóa vẫn nằm trong túi áo bà ba, tôi lấy ra tra vào ổ.
Ổ khóa rít lên một tiếng khô, rồi mở.
"Bà lấy gì vậy?"
"Cái này."
Tôi đặt lên bàn một chiếc hộp thiếc đã han gỉ.
"Trong đó là gì hả bà?"
"Cậu mở ra."
Cậu Nam mở nắp hộp.
Bên trong là một xấp giấy bọc trong túi ni lông.
"Cách đây nửa năm, có người tìm tới tôi." Tôi nói.
"Ai vậy bà?"
"Một cậu luật sư trẻ."
"Luật sư tìm bà làm gì?"
"Cậu ấy bảo đang điều tra một vụ làm giả giấy tờ đất đai từ mấy chục năm trước, dính líu tới nhiều lô đất trong khu phố này."
"Có lô 47 không bà?"
"Có."
"Rồi cậu ấy tìm được gì?"
"Cậu ấy tìm được hồ sơ gốc. Chứng minh được rằng những giấy tờ sang tên hồi đó đều là giả mạo."
Cậu Nam ngẩng lên, giọng lạc đi.
"Nghĩa là sao hả bà?"
"Nghĩa là về mặt pháp lý, chủ hợp pháp của lô đất số 47 vẫn là tôi."
Tôi nhớ hôm cậu luật sư đó ngồi đúng chỗ cậu Nam đang ngồi bây giờ.
Cậu ấy trải giấy ra khắp mặt bàn, chỉ cho tôi từng con dấu, từng chữ ký.
Tôi nghe mà không hiểu hết.
Tôi chỉ nhận ra một thứ: chữ ký của ông nhà tôi ở góc tờ hồ sơ san lấp, cái nét cuối vẫn hất lên như mọi khi.
"Vậy… vậy nhà hàng Hương Khải đang xây trên đất của bà?"
"Ừ."
"Cái nhà hàng ba tầng đó?"
"Ừ."
"Ông Khải có biết không bà?"
"Nó không biết. Nó mua lại lô đất đó từ tay kẻ đã chiếm đoạt."
"Vậy nó cũng bị lừa còn gì bà."
"Đúng. Với nó, nó bỏ tiền ra mua đàng hoàng." Tôi gật đầu. "Nhưng giấy tờ nó cầm trong tay là giấy tờ mọc ra từ một vụ lừa đảo. Về pháp luật, nó không có quyền gì trên mảnh đất đó cả."
Cậu Nam ngồi lặng đi một lúc lâu.
"Bà Tư."
"Ừ."
"Vậy sao bà không nói ra? Sao bà cứ để họ chèn ép mình?"
"Nói ra thì được cái gì hả cậu?"
"Được cái công bằng chứ được cái gì!"
"Cậu Nam à. Đời tôi đã đi qua đủ thứ rồi. Tôi không còn tham đất tham tiền nữa."
"Nhưng cái này không phải tham! Đất của bà mà!"
"Cậu luật sư đó cũng nói y như cậu. Cậu ấy khuyên tôi kiện đòi lại đất, đòi bồi thường."
"Nếu thắng thì sao bà?"
"Nếu thắng thì tôi có mấy chục tỷ."
"Mấy chục tỷ ạ?"
"Ừ."
"Vậy sao bà không kiện?!"
"Vì cái thằng Khải đó." Tôi nói chậm. "Dù bây giờ nó vô ơn, dù nó cho người chèn ép tôi, thì ngày xưa nó cũng chỉ là một đứa trẻ đói khát mà tôi từng thương như con."
"Bà còn thương nó được à?"
"Tôi không muốn đẩy nó vào đường cùng. Tôi chỉ muốn nó nhận ra."
Cậu Nam lắc đầu.
"Bà hiền quá bà ơi."
"Không phải hiền."
"Vậy là gì ạ?"
"Là tôi sợ. Tôi sợ cái đứa mình từng đút cho từng muỗng cháo, giờ mình lại là người đẩy nó xuống."
Tôi đẩy chiếc hộp thiếc về phía cậu ta.
"Cậu là người tôi tin. Cậu giữ giúp tôi xấp giấy tờ này."
"Sao bà không tự giữ?"
"Tôi già rồi, nhỡ có chuyện gì."
"Bà đừng nói gở."
"Ngày mai tôi vẫn ra góc phố như thường lệ." Tôi nói. "Tôi muốn cho thằng Khải một cơ hội."
"Cơ hội gì hả bà?"
"Một cơ hội để nó tự nhớ ra tôi là ai."
Cậu Nam cầm chiếc hộp, hai tay hơi run.
"Nhưng nếu ông Khải không nhớ ra thì sao ạ?"
Tôi nhìn ra giàn hoa giấy đỏ.
Nắng chiều đã hắt vào tới bậc thềm.
"Thì lúc đó, cậu Nam à, cả khu phố này sẽ được thấy một sự thật."
"Rồi sao nữa bà?"
"Rồi tôi chỉ hy vọng, khi sự thật phơi bày, con người ta còn kịp giữ lại chút lương tri."
Cậu Nam ôm cái hộp thiếc ra về.
Tôi đứng ở cửa nhìn theo tới khi cái xe máy của cậu ta khuất sau khúc quanh của hẻm.
Rồi tôi vào, khóa tủ gỗ, bỏ chìa khóa vào túi áo.
Tôi vo gạo nếp, ngâm nước, đãi đậu xanh, rửa lá chuối, xếp ra cái rổ tre cạnh bếp.
Việc này tôi làm hai mươi năm, tay quen tới mức không cần nhìn.
Chín giờ tối tôi tắt đèn.
Nằm xuống, tôi nghĩ tới cái mặt thằng bé mười tuổi ngồi co ro ở góc tường, và tôi nghĩ tới cái bóng người đứng sau lớp kính tầng ba chiều nay, tay cầm ly rượu.
Tôi không biết hai cái mặt đó có còn là một không nữa.
Sáng mai tôi vẫn đồ ba nồi xôi.
Vẫn đẩy xe ra góc số 47.
"Bà Tư, hôm qua nói nhẹ bà không nghe. Hôm nay tôi nói cho bà rõ."
"Cậu nói đi."
"Anh Khải quyết định mở rộng nhà hàng, làm thêm cái sân trước để khách để xe. Cái góc này phải giải tỏa."
"Giải tỏa tới đâu hả cậu?"
"Tới hết cái vệt bà đang đứng."
"Vậy tôi đứng đâu?"
"Đó là chuyện của bà."
Sáng hôm sau tôi ra sớm hơn thường lệ, dựng lại xe xôi đúng cái chỗ hôm qua bị đá đổ.
Thằng Long dẫn theo bốn năm thanh niên xăm trổ, đứng dàn hàng ngang trước xe tôi.
"Bà tự dọn đi, hay để anh em đây dọn giúp?"
Một gã xăm trổ tiến tới, giơ chân định hất cái xe lần nữa.
"Các anh làm gì vậy!"
Cậu Nam lao ra chắn trước xe tôi, tay còn ôm cái cặp da.
"Mày là thằng nào?"
"Đây là chỗ buôn bán hợp pháp của bà!"
"Hợp pháp?" Long cười khẩy. "Mày muốn xen vào chuyện này hả?"
"Cậu Nam." Tôi gọi. "Cậu lùi lại."
"Bà ơi…"
"Lùi lại."
Cậu ta lùi ra nửa bước, mặt vẫn đỏ gay.
Đám đông bắt đầu tụ lại.
Cô Hạnh bún riêu, chú Ba bánh mì, bà Sáu trái cây — những người đã lần lượt phải dời đi từ ngày cái nhà hàng mọc lên.
Cô Hạnh bị mấy thanh niên xăm trổ tới ngồi lì cả buổi sáng, gọi một tô bún rồi chửi bới, hất đổ, khách sợ không dám tới nữa.
Chú Ba dời vào con hẻm phía sau, khuất nẻo, ế ẩm.
Họ đứng đó, mặt đầy phẫn nộ nhưng không ai lên tiếng.
Nỗi sợ đã bịt miệng cả khu phố này ba tháng nay.
Bà Sáu kéo tay tôi, thì thầm.
"Thôi bà ơi, bà nhịn đi."
"Tôi có làm gì đâu bà Sáu."
"Mấy thằng này nó làm liều lắm. Bà một thân một mình, có chuyện gì thì khổ."
"Tụi con thương bà." Cô Hạnh nói, mắt rơm rớm. "Nhưng tụi con cũng sợ. Người ta có tiền có thế, mình dân buôn thúng bán bưng làm sao đấu lại được."
"Các cô các bác đừng sợ." Tôi nói. "Hôm nay, để tôi nói chuyện."
"Bà nói được gì hả bà?"
"Tôi nói một câu hỏi thôi."
Tôi quay sang thằng Long.
Tôi đứng thẳng lưng, cái lưng mà hai mươi năm nay tôi vẫn còng xuống bên nồi xôi.
"Cậu Long."
"Gì?"
"Cậu bảo anh Khải muốn giải tỏa cái góc này."
"Đúng."
"Vậy tôi hỏi cậu, anh Khải của cậu có biết cái góc này trước kia là gì không?"
"Là cái vỉa hè chứ là cái gì."
"Có biết ai là người đầu tiên đặt viên gạch xuống mảnh đất mà nhà hàng đang đứng không?"
Long khựng lại một giây.
"Bà lại giở trò gì nữa."
"Tôi hỏi thôi."
"Đất anh Khải mua có giấy tờ đàng hoàng. Bà đừng có mà bịa chuyện hù dọa."
"Giấy tờ đàng hoàng." Tôi lặp lại. "Cậu có đọc cái giấy đó chưa?"
"Tôi đọc làm gì!"
"Vậy cậu đừng nói chắc."
"Bà…"
"Bịa hay không, lát nữa khắc rõ."
Đúng lúc đó, cánh cửa kính nhà hàng mở ra.
Nó bước ra, mặc bộ vest xám, tay đeo đồng hồ vàng.
Nó chậm rãi đi tới, mắt quét qua đám đông rồi dừng lại ở cái xe xôi của tôi.
"Có chuyện gì mà ồn ào vậy Long?"
"Dạ anh Khải, cái bà bán xôi này cứ lì ra không chịu dọn. Em đang nói chuyện với bà ấy."
Nó nhìn tôi.
Ánh mắt lướt qua, không dừng lại.
Với nó, tôi là một bà cụ bán hàng rong vô danh.
Ba mươi năm trước nó cao ngang cái nồi cháo nhà tôi.
"Bà cụ."
"Vâng."
"Tôi cho người đền bù cho bà mười triệu."
"Mười triệu."
"Bà cầm tiền rồi tìm chỗ khác mà bán. Coi như tôi giúp bà."
"Cậu giúp tôi?"
"Ở cái tuổi này, bà nên nghỉ ngơi đi, đừng bám víu mấy đồng bạc lẻ nữa."
Tôi nhìn nó rất lâu.
Cái sống mũi đó, cái nốt ruồi dưới đuôi mắt trái đó, tôi lau mặt cho nó bao nhiêu lần rồi.
"Cậu Khải."
"Gì nữa đây."
"Cho tôi hỏi cậu một câu."
"Bà hỏi nhanh giùm."
"Cậu có còn nhớ cái quán cơm từ thiện ở góc phố này ngày xưa không?"
Nó khựng lại.
"Cái quán gì?"
"Cái quán mà có một đứa bé mồ côi, đói rách, ngày nào cũng tới ăn cơm không mất tiền."
Một thoáng gì đó lướt qua mặt nó.
Rất nhanh.
Rồi tắt.
"Bà nói gì tôi không hiểu."
"Cậu nghĩ kỹ đi rồi hãy trả lời."
"Tôi không có thời gian nghe chuyện tào lao. Long, giải quyết cho xong."
Tôi nhắm mắt lại một giây.
Ba mươi năm, tôi vẫn nghĩ nếu có ngày gặp lại nó, tôi sẽ chẳng cần nói gì.
Tôi tưởng nó nhìn là nó nhận ra.
Tôi tưởng cái đêm mùa đông đó nó cũng nhớ như tôi nhớ.
Cả một đời tôi chờ cái giây vừa rồi.
Nó đi qua rồi.
"Được rồi." Tôi mở mắt ra. "Tôi đã cho cậu một cơ hội để nhớ."
"Bà nói gì?"
"Cậu không nhớ, thì tôi đành phải nhắc cho cậu nhớ."
"Bà cụ này…"
"Cậu Nam."
"Dạ."
"Đưa tôi cái hộp."
Cậu Nam mở cặp, lấy chiếc hộp thiếc ra, hai tay đưa cho tôi.
Tôi mở nắp, lấy xấp giấy, giơ lên trước mặt mọi người.
"Cậu Khải, cậu nói cậu bỏ ra bao nhiêu tỷ để mua lô đất số 47 này đúng không?"
"Bà giơ cái gì đấy?"
"Cậu trả lời tôi trước đã. Cậu bỏ ra bao nhiêu tỷ?"
"Chuyện đó liên quan gì tới bà?"
"Vậy tôi hỏi cách khác." Tôi nói. "Người bán đất cho cậu, họ có giấy tờ gốc không?"
"Có chứ!"
"Họ có sổ đỏ chính chủ từ năm một chín tám tám không?"
Nó cau mày.
"Bà nói vớ vẩn gì vậy? Đất tôi mua có đầy đủ giấy tờ, công chứng đàng hoàng."
"Giấy tờ giả."
"Bà nói lại xem?"
"Toàn bộ hồ sơ đất của cậu đều mọc ra từ một vụ làm giả giấy tờ, lừa đảo chiếm đoạt đất cách đây mấy chục năm."
"Bà điên rồi!"
"Chủ hợp pháp thật sự của lô đất số 47, từ ngày nó còn là ruộng cho tới bây giờ, chưa bao giờ thay đổi."
Tôi đặt xấp giấy lên nắp xe xôi, chỉ vào con dấu đỏ đã mờ.
"Đây là sổ gốc, cấp từ năm một chín tám tám, còn nguyên con dấu đỏ của thời đó."
"Cho tôi xem."
"Cậu đứng đó nhìn cũng thấy. Đây là hồ sơ san lấp mặt bằng, có chữ ký của đơn vị thi công."
"Cái này…"
"Đây là giấy phép xây dựng cái quán cơm ngày xưa." Tôi lật sang tờ tiếp theo. "Còn đây là kết luận điều tra của bên luật sư, chứng minh toàn bộ giấy tờ mà người ta bán cho cậu đều là giả mạo."
Đám đông nhoài cả người tới.
Ai cũng muốn nhìn cho rõ.
"Và đây." Tôi chỉ vào dòng chữ trên tờ sổ gốc. "Là tên của người đứng tên chủ đất. Ai đọc giùm tôi. Mắt tôi kém rồi."
Có tiếng ai đó đọc to lên.
"Trần… Thị… Tư…"
"Trần Thị Tư?"
"Bà Tư bán xôi?"
Cả góc phố chết lặng.
Nó giật lấy tờ giấy.
Mắt nó trợn tròn khi đọc từng dòng.
Mặt nó tái dần đi.
Bàn tay cầm tờ giấy bắt đầu run.
"Không thể nào…"
"Cậu đọc kỹ đi."
"Đây là… đây là giấy tờ giả. Chắc chắn là giả. Bà làm gì có…"
"Cậu Khải."
"Bà làm gì có được cái này!"
"Nửa năm trước, có một cậu luật sư trẻ tìm tới tôi." Tôi nói, giọng tôi tự nhiên dịu hẳn xuống. "Cậu ấy đã trình toàn bộ hồ sơ này lên tòa án."
"Bà nói gì?"
"Vụ án đang được thụ lý."
"Bà…"
"Chỉ cần tôi gật đầu, cả cái nhà hàng ba tầng của cậu sẽ bị cưỡng chế tháo dỡ." Tôi nói. "Bởi vì nó đang đứng trên đất của tôi."
Thằng Long đứng bên cạnh, mặt cắt không còn giọt máu.
Mấy tên xăm trổ lấm lét lùi ra sau.
"Trời ơi, hóa ra đất này là của bà Tư…"
"Vậy mà bấy lâu nay để người ta hiếp đáp bà…"
"Bà Tư ơi." Cô Hạnh bật khóc. "Sao bà không nói sớm?"
"Nói sớm thì được gì hả cô."
"Sao bà chịu để người ta đá đổ nồi xôi của bà? Bà khổ quá bà ơi."
"Tôi không khổ." Tôi nói. "Tôi chỉ đợi."
Nó loạng choạng lùi lại một bước.
Người đàn ông vừa nãy còn bố thí mười triệu cho tôi, giờ đứng chôn chân, mồ hôi túa ra trên trán.
"Bà… bà là ai?"
Tôi bước tới gần nó.
Tôi phải ngước lên mới nhìn được mặt nó.
Ngày xưa nó phải ngước lên mới nhìn được mặt tôi.
"Cậu thật sự không nhớ à, Khải?"
"Bà…"
"Mùa đông năm đó, có một thằng bé mười tuổi run cầm cập vì đói, ngồi co ro trước cửa quán."
Nó đứng im.
"Tôi đã bế nó vào, đút cho nó từng muỗng cháo nóng."
"Bà…"
"Tôi đã may cho nó cái áo bông, mua cho nó đôi dép mới."
"Đừng nói nữa…"
"Tôi đã nói với nó rằng, con ơi, dù nghèo tới đâu cũng phải sống cho tử tế, cho có tình có nghĩa."
Tờ giấy trong tay nó rơi xuống đất.
"Bà…"
"Cậu nói gì?"
"Bà… bà Tư…" Nó lắp bắp, giọng vỡ ra. "Bà là… bà Tư quán cơm…"
"Bà Tư… con xin lỗi bà. Con là thằng Khải quán cơm. Con nhớ rồi. Con nhớ hết rồi."
"Cậu đứng lên."
"Con không đứng."
Nó quỵ hai gối xuống nền vỉa hè, ngay trước cái xe xôi cũ kỹ của tôi.
"Đứng lên đi con. Đàn ông con trai, quỳ giữa đường thế này coi sao được."
"Con bất hiếu. Con vô ơn."
"Đứng lên đã."
Nó không đứng.
Nó ôm lấy hai bàn tay tôi, áp vào trán mình.
Tay tôi chai, móng tay có mùi lá chuối.
"Bao nhiêu năm nay con lo làm giàu, con quên hết. Con quên cả người đã cứu mạng con."
"Ai chả có lúc quên."
"Vậy mà con còn cho người chèn ép bà, đá đổ đồ ăn của bà. Con không phải là người, bà ơi."
"Thôi con. Đứng lên. Có gì từ từ nói."
Nó đứng dậy, mắt đỏ hoe.
Rồi nó quay sang đám đông.
"Bà con cô bác tha lỗi cho tôi. Bấy lâu nay tôi đã làm nhiều điều sai trái với bà con trong khu phố này."
Không ai đáp.
"Tôi xin lỗi cô Hạnh."
"Anh xin lỗi tôi thì được gì. Gánh bún của tôi dẹp cả năm nay rồi."
"Tôi sẽ mời cô về lại chỗ cũ."
"Nói vậy thôi chứ ai tin."
"Chú Ba."
"Gì?"
"Xe bánh mì của chú, tôi cho người đẩy về chỗ cũ ngay chiều nay."
"Chú thì chú nói thẳng." Chú Ba nói. "Anh xin lỗi tôi cũng được, mà anh phải cảm ơn bà Tư trước đã."
"Vâng."
"Không phải vì bà ấy có đất. Vì bà ấy có thể đè anh mà bà ấy không đè."
Thằng Long và đám xăm trổ lặng lẽ lảng đi mất từ lúc nào.
Chiều hôm đó nó tới nhà tôi.
Nó dắt theo một cậu thanh niên trẻ mặc sơ mi trắng, tay xách cặp hồ sơ.
"Bà ơi, con giới thiệu, đây là luật sư…"
"Bà không nhận ra con đâu."
Cậu thanh niên đó nói trước.
Cậu ta cười, mắt đỏ hoe.
"Cậu là…?"
"Hồi đó con bé tí, gầy nhom, hay theo bà nhặt rau phụ quán."
Tôi nhìn cậu ta thật kỹ.
"Bà hay gọi con là thằng cò."
Tôi buông cái ấm trà xuống bàn.
"Thằng cò?"
"Dạ."
"Thằng cò… của tôi?"
"Dạ. Con là Minh."
"Trời ơi." Tôi phải vịn vào mép bàn. "Lớn thế này rồi. Giỏi giang thế này rồi."
"Con lớn lên nhờ những bát cơm của bà."
"Con đi học luật hồi nào?"
"Sau này con đi học luật, con tự hứa với lòng, nếu có ngày tìm lại được bà, con nhất định phải làm gì đó để trả ơn."
"Rồi sao con tìm ra vụ đất?"
"Con tình cờ biết được vụ lô đất số 47. Con đã bỏ ra nửa năm trời lần theo hồ sơ cũ, tìm gặp mấy nhân chứng ngày xưa, mới ráp nối lại được toàn bộ sự thật."
"Con giấu bà à?"
"Con sợ nói sớm bà lại bảo thôi." Cậu ta cười. "Bà hay bảo thôi lắm."
Tôi nắm lấy tay cậu ta.
Nước mắt tôi tự nhiên lăn xuống.
"Thằng cò của bà đây mà."
Ba con người ngồi trong căn nhà nhỏ của tôi, quanh cái bàn gỗ ông nhà tôi đóng từ hồi còn quán.
Ba số phận từng gắn với mấy cái bàn ấy.
Một đứa đã lạc đường, một đứa đã trưởng thành.
Còn tôi thì ngồi giữa, rót trà, tay run vì mừng chứ không phải vì già.
"Bà Tư." Nó ngồi xuống, giọng đã bình tĩnh hơn. "Con đã cho luật sư kiểm tra lại toàn bộ."
"Rồi sao con?"
"Lô đất số 47 đúng là của bà. Con mua phải đất có nguồn gốc lừa đảo."
"Rồi thì sao?"
"Về pháp luật, con phải trả lại đất cho bà. Và cái nhà hàng của con phải tháo dỡ."
"Tháo dỡ hết à?"
"Dạ. Hết."
"Con nghe bà nói này."
"Dạ."
"Bà già rồi. Bà lấy đất, lấy tiền để làm gì."
"Nhưng bà ơi…"
"Bà chỉ cần một chỗ nhỏ để bán xôi, để được ở gần cái nơi có kỷ niệm với ông nhà bà. Vậy là đủ."
"Bà không lấy thì bà tính sao ạ?" Cậu Minh hỏi.
"Bà có một đề nghị. Hai đứa nghe xem có được không."
"Dạ bà nói đi."
"Cái nhà hàng của con cứ giữ lấy mà làm ăn." Tôi nhìn nó. "Bà tặng lại con lô đất đó."
Nó sững sờ.
"Bà… bà cho con?"
"Ừ."
"Nhưng đó là mấy chục tỷ, thưa bà."
"Coi như bà cho con, như ngày xưa bà cho con bát cháo, cái áo ấm."
"Bà ơi…"
"Nhưng bà đổi lại một điều."
"Bà cứ nói. Điều gì con cũng làm."
"Con hãy dành tầng trệt của nhà hàng, mở lại một cái quán cơm từ thiện."
"Tầng trệt ạ?"
"Ừ. Tầng trệt, chỗ mặt tiền, chỗ đẹp nhất."
"Rồi nuôi ai hả bà?"
"Nuôi những đứa trẻ mồ côi, những người nghèo khó, giống như cái quán cơm ngày xưa của vợ chồng bà. Con làm được không?"
Nó nắm chặt tay tôi.
"Con làm được. Con hứa với bà. Con sẽ làm."
"Bà không cần con hứa."
"Vậy bà cần gì ạ?"
"Bà cần con làm."
Ba tháng sau, nhà hàng Hương Khải sang trọng vẫn còn đó.
Nhưng tầng trệt của nó đã thành một quán cơm từ thiện mang tên "Quán Cơm Bà Tư".
Cái tên đó tôi không đặt.
Tôi bảo đừng lấy tên tôi, nó không nghe.
Nó cho thợ tháo hết bộ bàn ghế bọc nhung, kê vào đấy hai chục cái bàn inox, mở cửa từ mười giờ sáng tới hai giờ chiều.
Sáng nào cũng có mấy trăm suất cơm phát miễn phí.
Người bán vé số, người chạy xe ôm, mấy đứa nhỏ đánh giày ngoài bến xe — cứ vào là có phần, không hỏi han, không phân biệt, đúng như cái nếp cũ.
Chính nó, đích thân xắn tay áo vào bếp, múc từng bát.
"Bà Tư ơi, bà ăn cơm chưa?"
"Bà ăn rồi. Con múc cho người ta đi."
"Bà vào ngồi cho mát."
"Bà ngồi ngoài này quen rồi."
Tôi vẫn bán xôi ở góc phố cũ.
Cái xe được nó cho làm mới, có mái che, có bảng hiệu.
Cô Hạnh, chú Ba, bà Sáu cũng đã về lại.
Thằng Long thì bị nó cho nghỉ việc.
Nghe tin, tôi gọi điện.
"Khải à."
"Dạ bà."
"Cái thằng Long đó, con cho nó nghỉ rồi hả?"
"Dạ. Nó không xứng ở lại."
"Con nhận nó vào phụ quán cơm."
"Bà nói gì cơ ạ?"
"Nhận nó vào phụ quán cơm từ thiện."
"Bà ơi, nó đá đổ nồi xôi của bà!"
"Bà biết."
"Nó chửi bà giữa đường!"
"Bà cũng biết."
"Vậy sao bà còn xin cho nó?"
"Con người ta ai cũng có lúc lầm lỡ." Tôi nói. "Cho nó cơ hội sửa sai, biết đâu nó lại thành người tốt."
"Bà lấy gì bà chắc?"
"Bà không chắc." Tôi nói. "Ba mươi năm trước bà cũng có chắc con sẽ thành người tốt đâu."
Đầu dây bên kia im rất lâu.
"Dạ. Con hiểu rồi bà."
Một buổi sáng, tôi đang têm trầu thì thấy thằng Long tự tay đẩy cái xe xôi mới ra góc phố cho tôi.
Nó dựng chống, che mái, rồi cúi đầu chào tôi thật sâu.
"Bà."
"Ừ."
"Con… con dựng xe cho bà rồi."
"Ừ. Ngoan."
"Bà không mắng con câu nào à?"
"Mắng làm gì. Con làm được thì bà mừng."
Nó quay đi.
Tôi thấy vai nó rung.
Chiều hôm đó cậu Nam ghé mua xôi như mọi khi.
"Bà Tư ơi."
"Cậu hỏi gì thì hỏi. Mặt cậu chứa câu hỏi từ nãy rồi."
"Bà có bao giờ tiếc không ạ?"
"Tiếc gì cơ?"
"Nếu bà đòi lại đất, đòi bồi thường, bà đã có mấy chục tỷ. Sống sung sướng cả đời."
"Cậu Nam à."
"Dạ."
"Tiền nhiều để làm gì khi trong lòng không yên."
"Nhưng đó là của bà mà."
"Bà cho đi mảnh đất, nhưng bà nhận lại được một đứa con biết quay đầu."
"Rồi sao nữa ạ?"
"Một khu phố ấm tình người. Với bao nhiêu đứa trẻ được no bụng mỗi ngày."
"Bà tính hơn thiệt kiểu đó thì con chịu bà."
"Cậu tính xem, cái nào giá trị hơn?"
Cậu Nam không đáp.
Cậu ta cầm gói xôi, đứng nhìn sang bên kia đường, chỗ quán cơm đang tấp nập người ra vào.
"Con người ta sống trên đời." Tôi nói. "Quan trọng nhất là hai chữ tử tế."
"Bà nói con nghe kỹ hơn được không?"
"Có tiền mà mất tử tế thì cũng thành kẻ nghèo hèn nhất."
"Còn nghèo thì sao ạ?"
"Còn nghèo mà giữ được cái tâm thì đi tới đâu cũng ngẩng cao đầu được, cậu à."
Chiều hôm đó nắng vàng trải khắp góc phố.
Mùi xôi gấc thơm lừng quyện với mùi cơm nóng bên kia đường.
Tôi ngồi ở góc số 47.
Cái góc mà hai mươi năm nay tôi ngồi ngoài rìa nó.
Bây giờ tôi vẫn ngồi ngoài rìa.
Tôi thích ngồi đó.
Vì từ chỗ này, tôi nhìn được vào bên trong, chỗ hai vợ chồng tôi từng kê cái nồi cháo, ba mươi năm trước, cái đêm mùa đông rét cắt da.


